phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có cấu trúc 03 chương: Chƣơng Cơ sở l luận và thực tiễn phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Chƣơng Thực trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Chƣơng Các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG CƠ SỞ UẬN VÀ THỰC TIỄN PH T TRIỂN NGUỒN ỰC TH NG TIN TẠI THƢ VIỆN CỤC TH NG TIN HOA HỌC VÀ C NG NGHỆ QUỐC GIA 1.
Một số h i niệ v i ch nh gi ng ồn lực thông tin hái iệ guồ ực th g ti Để hiểu được khái niệm nguồn lực thông tin, trước hết ta nên tìm hiều về khái niệm thông tin. Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học và cũng là khái niệm trung tâm trong xã hội. Mọi quan hệ, mọi hoạt động trong đời sống xã hội của con người đều dựa vào hình thức giao lưu thông tin nào đó. Mọi tri thức đều bắt nguồn từ một hay nhiều thông tin về những điều đã diễn ra, về những người mà chúng ta biết hoặc chưa biết.
Vậy thông tin là gì?. Hiện có rất nhiều cách hiểu về thông tin. Thuật ngữ thông tin có tên tiếng Anh là “information” có nguồn gốc từ tiếng Latin “Informatio” được hiểu theo hai nghĩa. Một là chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng (forme).
Hai là tùy theo tình huống, nó có thể là truyền đạt một tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: Một người có thể nhận thông tin từ người khác thông qua phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hay từ tất cả các hiện tượng quan sát được qua môi trường xung quanh.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong đời sống thực tiễn: Thông tin được đồng nghĩa với “tin tức”,”thông báo”, là nhu cầu cơ bản gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất và đời sống thực tế của con người. Theo Đại từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Thông tin là tin tức được chuyển từ người này qua người khác bằng lời nói, chữ viết hay một phương tiện nào đó”.[14] Theo từ điển Oxford English Dictionary: “Thông tin là tri thức, tin tức” Theo quan điểm triết học: “ Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả phương tiện tác động lên giác quan của con người”. Theo lý thuyết thông tin: Thông tin là sự loại trừ cái bất định của hiện tượng ngẫu nhiên, thông tin là lượng đo trật tự nhân tạo chống lại sự hỗn độn của tự nhiên. Theo Simon (nhà kĩ thuật học, được đạt giải Nobel năm 1778): “Vật chất, năng lượng và thông tin là “bộ ba” khái niệm khoa học tổng quát nhất.
Như vậy, thông tin cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được cho là thống nhất với đầy đủ về bản chất của nó trên diễn đàn khoa học. Theo quan điểm của riêng tôi, thông tin được hiểu là tất cả những gì đem lại cho con người sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng. Từ định nghĩa về thông tin ta có định nghĩa về nguồn lực thông tin. Nguồn lực thông tin là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong hoạt động thông tin – thư viện.
Cũng giống như định nghĩa về thông tin, nguồn lực thông tin cũng có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau: Theo tiếng Anh “Nguồn lực thông tin” là “information resource”. Tuy nhiên nội hàm khái niệm nguồn lực thông tin vẫn chưa có sự đồng nhất, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau: Có người cho rằng nguồn lực thông tin 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu tương đương như vốn tài liệu có trong thư viện, nhưng một số khác lại đưa ra quan điểm nguồn lực thông tin không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn các thành phần khác như hạ tầng kỹ thuật thông tin, nhân lực thông tin. Theo quan điểm của PGS. Nguyễn Hữu Hùng: “Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiệ ưới dạ g v n, số, hình nh hay âm thanh đư c ghi lại trê hư g tiệ th qu ước hoặc không the qu ước, các sưu tập, những kiến th c của c gười, những kiến th c của t ch c có thể truy cập và có giá trị ch gười s dụ g” [9] Theo PGS.TS Trần Thị Quý cho rằng: “Nguồn lực thông tin chính là các dạng vật ch t hác hau ưu giữ các thông tin/tri th c của c gười đư c t ch c, sắp xếp lại có c u trúc, có ý ghĩa, có ội u g c gười có thể hai thác đư c chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Nguồn lực thông tin này do một t ch c, cá h đó iểm soát chúng nhằm phục vụ cho l i ích của c gười” [19] Theo Ts. Nguyễn Viết Nghĩa “Nguồn lực thông tin là tập h p có t ch c các loại hình tài liệu ưới mọi định dạng khác nhau của một c qua th g ti , thư viện nhằm thỏa mãn nhu c u của gười dùng tin”[14] Theo Ts. Lê Văn Viết “Nguồn lực thông tin là t h p các tài liệu ph n ánh những kết qu nghiên c u khoa học trong hoạt động nhận th c và thực tiễn của c gười” Theo đó sự hình thành nguyên tắc xây dựng, chức năng của vốn tài liệu và của nguồn lực thông tin nhìn chung là đồng nhất. Do đó, coi vốn tài liệu của cơ quan thông tin – thư viện chính là nguồn lực thông tin cũng là điều dễ hiểu.
Theo Pháp lệnh Thư viện: “ Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu đư c sưu t m, tập h p theo nhiều chủ đề, nội dung nh t đị h, đư c x lý theo quy 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư việ để t ch c phục vụ gười đọc đạt đư c hiệu qu ca v đư c b o qu n”[3] Nhìn chung các quan điểm về nguồn lực thông tin ở trên đều có điểm giống nhau là phản ánh nguồn lực thông tin, bao gồm các dạng thông tin, tài liệu được thể hiện dưới mọi định dạng khác nhau như: sách, báo, cơ sở dữ liệu…chúng đều là kết quả của hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của con người được nghi lại, lưu trữ trên các vật mang tin khác nhau để cung cấp cho người sử dụng. Với những quan điểm, định nghĩa trên, nhìn chung chưa có một quan điểm thống nhất nào về nguồn lực thông tin. Song trong khuôn khổ luận văn này, tác giả nhất trí với quan điểm cho rằng: “Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích hợp được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được nghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn” [ 22, tr.163 - 164] Như vậy, nguồn lực thông tin theo quan điểm của tác giả là tất cả các nguồn tin mà thư viện sở hữu hoặc có thể tiếp cận để phục vụ người dùng tin của mình.
Với cách hiểu như trên, nguồn lực thông tin trong đề tài nghiên cứu bao gồm: sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu…được thể hiện dưới mọi dạng thức khác nhau. Nguồn lực thông tin là nền tảng cho mọi hoạt động thông tin – thư viện và tạo nên sức mạnh của mỗi cơ quan thông tin – thư viện, nó cũng là cơ sở để các cơ quan thư viện xây dựng nên sản phẩm và dịch vụ thông tin và chất 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng phục vụ cho người dùng tin. Do đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan thư viện và thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin cho người sử dụng, đòi hỏi các cơ quan thông tin, thư viện phải chú trọng phát triển nguồn lực thông tin của đơn vị mình. hái iệ hát triể guồ ực th g ti.
Phát triển theo tiếng Anh là “Development”. Khái niệm phát triển dùng để chỉ một hành động hay quá trình làm cho một sự vật hoặc hiện tượng nào đó thay đổi, tăng trưởng và tiến bộ hơn. Theo quan điểm của triết học, thuật ngữ “phát triển” là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái biến mất mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện cho tới lúc tiêu vong.
“Phát triển” thể hiện tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy, có nghĩa là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ là biến đổi mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái mà trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đó. Nguồn gốc của sự phát triển là sự hệ thống và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Phương thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại, chiều hướng phát triển được vận động theo hình xoáy trôn ốc. Theo Từ điển tiếng Việt “ Phát triển là sự biế đ i hoặc là cho biế đ i từ ít tới nhiều, từ th p lên cao, từ hẹ đến rộng, từ đ gi đến ph c tạp”.
[24] Như vậy, phát triển là từ dùng chỉ sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ trạng thái tồn tại cũ, sang trạng thái tồn tại mới, đó là biến đổi cả về lượng và chất theo chiều hướng tốt lên của sự vật, hiện tượng. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phát triển nguồn lực thông tin có nghĩa là làm cho nguồn lực thông tin thêm mạnh hơn, phong phú, đầy đủ và có chất lượng hơn.