phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực thông tin số tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng nguồn lực thông tin số tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin số tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC THÔNG TIN SỐ TẠI THƢ VIỆN VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin số 1. Khái niệm * Khái niệm nguồn lực thông tin số và phát triển nguồn lực thông tin số - Khái niệm nguồn lực thông tin số Để hiểu được NLTTS là gì, trước hết cần phải nắm được thế nào thông tin số. Thông tin số là thông tin được biểu diễn bằng kỹ thuật số và được truy cập trên máy tính hoặc mạng máy tính.
Nói cách khác, thông tin số là những thông tin đã được mã hóa dưới dạng mã nhị phân (tức là gồm hai số 0 và 1) [31, tr. Thông tin số được trình bày và lưu trữ trên các vật mang tin điện tử. Đó là các băng từ, đĩa từ, đĩa quang. Chúng tạo thành nguồn tài liệu số (hay tài liệu điện tử).
Về khái niệm NLTT thì hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Nguyễn Viết Nghĩa: “NLTT là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi định dạng khác nhau của một cơ quan TT - TV nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT” [25]. Theo quan điểm của TS. Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ này vẫn chưa được thống nhất :”Có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong cơ quan TT - TV.
Người khác lại đưa ra quan điểm NLTT không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác như: tài liệu, thông tin, nhân lực thông tin,…” [42, tr.TS Nguyễn Hữu Hùng: “NLTT bao gồm các dữ liệu thể hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hay âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng” [16, tr. Như vậy, từ những định nghĩa trên, theo tác giả luận văn, có thể hiểu NLTTS chính là phần NLTT dạng số hóa, các bản tin điện tử, các website, CSDL trực tuyến, CSDL chuyên ngành đa ngành lưu trữ trên các đĩa từ, băng từ, đĩa CD-ROM… có thể khai thác và sử dụng trên máy tính, hệ thống mạng và được trao đổi, chia sẻ dễ dàng trong môi trường số. - Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin số Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 1999: “Phát triển là quá trình vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên” [47, tr. Về mặt triết học: Phát triển là một phạm trù triết học chỉ quá trình vận động tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, theo tác giả: Phát triển NLTTS là phát triển các tài liệu dạng số hóa, các CSDL (thư mục, dữ kiện, toàn văn), bản tin điện tử, các sách, tạp chí, tranh ảnh, bản đồ, đồ họa… căn cứ vào nhu cầu thực tế của NDT, có sự biến đổi căn bản về chất và lượng của NLTT, đồng thời xem xét các yếu tố tác động đến NLTTS để đảm bảo tính hiệu quả và sự phát triển của một cơ quan TT - TV cụ thể. * Một số khái niệm liên quan - Thư viện điện tử: Xuất phát từ cách nhìn thư viện như một thiết chế, một chỉnh thể tổ chức (cơ quan, đơn vị sự nghiệp), theo Dự thảo Luật Thư viện Việt Nam, thư viện điện tử là thư viện trong đó việc thu thập, xử lý, lưu giữ, xử lý, tổ chức, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo quản, trao đổi, sử dụng thông tin được thực hiện bằng các phương tiện điện tử [9]. - Thư viện số: Trong Tuyên ngôn Thư viện số được IFLA và UNESCO thông qua, thư viện số được định nghĩa là: Bộ sưu tập trực tuyến các đối tượng số, có chất lượng được đảm bảo, được tạo lập hoặc sưu tập và quản trị theo những nguyên tắc quốc tế về phát triển bộ sưu tập và được làm cho truy cập được một cách mạch lạc và bền vững, được hỗ trợ bởi dịch vụ cần thiết cho phép người sử dụng tìm lại và khai thác tài nguyên [49]. - Tài liệu điện tử: Tài liệu điện tử là thông tin ghi lại theo cách mà cần phải có máy tính điện tử hoặc các dụng cụ điện tử khác nhau mới xem được và xử lý được.
Bao gồm các loại tài liệu dưới dạng văn bản, đồ họa, bảng tính được sinh ra bởi các phần mềm và được lưu giữa trên các môi trường từ tính hay quang học (CD, DVD), kể cả thư điện tử và có tài liệu được truyền trong mạng trao đổi dữ liệu điện tử (The Business Dictionary). Theo định nghĩa của Lưu trữ Quốc gia Mỹ, tài liệu điện tử là là những tài liệu chứa thông tin số, biểu đồ và thông tin dạng văn bản có thể ghi lại trên bất kỳ vật mang bằng máy nào (tức là chứa thông tin bất kỳ được ghi ký lại ở dạng chỉ có thể xử lý khi có sự trợ giúp của công cụ máy tính) và được hiểu theo nghĩa tương đương với khái niệm “tài liệu” [11]. - Tài liệu số: Là các thông tin được mã hóa và lưu trữ trên các vật mang tin để NDT có thể truy cập được thông qua các thiết bị điện tử, bao gồm: dữ liệu trực tuyến và dữ liệu điện tử ở trên vật mang tin vật lý. Tài liệu số cũng có thể được định nghĩa là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy về bản chất, tài liệu số và tài liệu điện tử là một, trong luận văn này, tác giả dùng thống nhất khái niệm tài liệu số. - Cơ sở dữ liệu: Theo từ điển tiếng Anh Oxford, “CSDL là một tập hợp các dữ liệu có cấu trúc được lưu trữ trong máy tính điện tử và có thể truy cập bằng nhiều cách khác nhau”. Định nghĩa này nhấn mạnh tính cấu trúc của dữ liệu và khả năng truy cập thuận lợi của CSDL. - Bộ sưu tập số: Bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu đã được số hóa dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, audio, video) về một chủ đề trong đó mặc dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện nhưng nó đều cung cấp một giao diện đồng nhất mà qua đó các tài liệu có thể truy cập tìm kiếm dễ dàng [38].
Đặc trưng của nguồn lực thông tin số Cùng với việc phát triển mạnh mẽ các kỹ thuật vi xử lý, việc ứng dụng ngày càng nhiều các vật mang tin điện tử như như băng từ, đĩa từ, đĩa quang hay hệ thống máy tính đã loại bỏ được những khó khăn về sự quá tải của các kho chứa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao và phân phối thông tin với những kênh rất đa dạng. Do đó, ngoài các loại tài liệu thông thường được in trên giấy hay trên microfilm, trên các phim ảnh thông thường như trước đây, hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đã ra đời một loại tài liệu mới, tồn tại dưới dạng đặc biệt - dạng số. Loại tài liệu này, về loại hình cũng bao gồm sách, tạp chí, tranh, ảnh, phim, bản đồ,. nhưng được lưu trữ trên các vật mang mới như băng từ, đĩa từ, đĩa quang, USB,.
Đó là một phần các ví dụ về NLTTS. Ngày nay, nhờ có sự phát triển của công nghệ tin học và viễn thông mà có sự xuất hiện của các mạng thông tin, trong đó nổi bật là Internet, mà nhờ đó một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phần NLTTS quan trọng được tổ chức trên các mạng. Hơn nữa, nhờ sự xuất hiện của các công nghệ mới như website, portal, e-mail,. ra đời cho phép con người trao đổi và sử dụng thông tin một cách thuận tiện và dễ dàng cập nhật.
NLTTS phản ánh bước phát triển mới của khoa học và công nghệ, là sản phẩm trí tuệ trên cơ sở ứng dụng CNTT của mỗi cơ quan, tổ chức. Hơn thế nữa, NLTTS phản ánh trình độ, năng lực và tính chuyên môn của tổ chức. NLTTS có nhiều ưu điểm về phương diện lưu trữ, cập nhật, tìm kiếm, cung cấp thông tin cho NDT. Ngoài những đặc trưng chung vốn có của các NLTT truyền thống, NLTTS còn mang những đặc điểm nổi trội sau: - Mật độ thông tin trong các NLTTS rất cao Do những tiến bộ của ngành CNTT, đặc biệt là công nghệ nén và lưu trữ dữ liệu trên các vật mang tin từ tính, quang học, mật độ ghi thông tin trên các vật mang tin này rất cao, và do vậy, dung lượng thông tin lưu giữ trên chúng cũng rất lớn.
- NLTTS còn có khả năng đa truy cập Tức là khả năng cho phép người dùng có thể tra tìm thông tin đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục thông thường với các toán tử được xây dựng theo đại số Bool, các toán tử tìm thu gọn, tìm theo các liên kết tới các nguồn tài liệu tham khảo, trích dẫn. Điều này cho phép NDT có thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi tìm kiếm, rút ngắn thời gian tra tìm và giảm thiểu mức độ tạp tin. - NLTTS cho phép NDT khả năng liên hệ, tiếp cận với các tác giả, tạo ra một kênh phản hồi thông tin giữa NDT và người sáng tạo ra thông tin. Bằng việc tạo ra các kết nối tới địa chỉ thư điện tử của tác giả, tới các bài viết của cùng tác giả, tới các bài viết về về cùng vấn đề của các giả khác ngay trong tài liệu, hay cho phép liên kết tới các nguồn thông tin khác ngoài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn bản hiện thời như liên kết tới các nguồn tham khảo, liên kết tới các tác giả đã trích dẫn công trình.