phần mở đầu,kết luận, mục lục, lời cám ơn, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm ba chương bao gồm: CHƢƠNG 1 – TRUNG TÂM THÔNG TIN TƢ LIỆU- VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM TRƢỚC NHIỆM VỤ ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC 1. Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đổi mới 1. Khái niệm về nguồn lực thông tin.Vai trò của nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đổi mới đất nước 1. Khái quát về Trung tâm Thông tin Tư liệu – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Lịch sử hình thành và phát triển 1. Chức năng nhiệm vụ 1. Cơ cấu tổ chức 1. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm 1.
Đặc điểm người dùng tin 1. Đặc điểm nhu cầu tin 1. Nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin Tư liệu trước nhiệm vụ chính trị của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÁP ỨNG NHU CẦU NGƢỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TƢ LIỆU 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Quá trình hình thành và phát triển nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ của Trung tâm.Nguồn vốn tài liệu khoa học và công nghệ của Trung tâm 2.Tài liệu dạng giấy 2. Tài liệu công bố 2. Tài liệu không công bố 2. Tài liệu dạng điện tử 2.
Các cơ sở dữ liệu 2.Trang Web của Trung tâm 2. Tài liệu dạng khác 2. Các sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm. Hệ thống mục lục.
Các tạp chí chuyên ngành ( phát hành trên cả nước và quốc tế) 2. Các ấn phẩm thông tin. Các sản phẩm điện tử. Các dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm.
Dịch vụ cung cấp tài liệu.Dịch vụ trao đổi thông tin. Dịch vụ tìm tin. Dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc. Dịch vụ Internet.
Dịch vụ tư vấn. Nhân lực trong hoạt động thông tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm. Cơ sở vật chất đáp ứng hoạt động thông tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm 2. Một số nhận xét và đánh giá về nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ của Trung tâm.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những nhược điểm. CHƢƠNG 3 – CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TƢ LIỆU 3. Chú trọng công tác xây dựng chính sách phát triển nguồn tin 3.
Nguyên tắc để xây dựng chính sách phát triển nguồn tin 3. Tăng cường diện bổ sung 3. Đa dạng hoá nguồn bổ sung tài liệu. Phối hợp trong công tác bổ sung 3.
Thanh lọc tài liệu cũ đi đôi với bổ sung tài liệu. Nâng cao hiệu quả khai thác và phổ biến nguồn lực thông tin. Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Nâng cao trình độ cán bộ thông tin.
Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về thông tin- tư liệu. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 – TRUNG TÂM THÔNG TIN TƢ LIỆU- VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM TRƢỚC NHIỆM VỤ ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC 1. Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đổi mới 1. Khái niệm về nguồn lực thông tin Ngày nay, thông tin đang trở thành nguồn lực vô cùng quan trọng.
Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên hình thức giao lưu thông tin nào đó. Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình, các hiện tượng tự nhiên được ghi nhận lại trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Vậy nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu được thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, của tổ chức và các ngành công nghiệp thông tin.
Nguồn lực thông tin là nền tảng cho mọi hoạt động thông tin- thư viện. Nó là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, để hợp tác và chia sẻ nguồn lực nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin- thư viện. Đây là vấn đề rất quan trọng, trong bối cảnh xã hội hiện nay khi mà công nghệ thông tin ngày càng phát triển, chi phối toàn bộ các hoạt động xã hội. Nguồn lực thông tin được chia làm hai loại: nguồn lực thông tin khoa học xã hội và nhân văn và nguồn lực thông tin khoa học kỹ thuật.
Nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ thuộc về nguồn lực thông tin khoa học và kỹ thuật. Nguồn lực thông tin KH&CN chính là các thông tin KH&CN được ghi lại trên các loại hình tài liệu và các phương tiện điện tử, được tổ chức thành các kho thông tin và các loại hình CSDL. Nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ được coi là chìa khóa của mọi hoạt động sáng tạo và trở thành một nhân tố không thể thiếu được trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ. Đó chính là tầm quan trọng không thể phủ nhận của thông tin khoa học và công nghệ.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Vai trò của nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đổi mới đất nƣớc Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện: ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh,bước đầu hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng lãnh đạo được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên nhiều; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn và sáng tạo. Mục tiêu tiếp theo trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta là: về kinh tế đạt nhịp độ tăng trưởng nhanh hơn, có chất lượng cao hơn và bền vững hơn, đồng thời hoàn thiện và thực hiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, tăng thêm sức mạnh tổng hợp quốc gia trong quá trình phát triển. Về văn hóa, xã hội, tiếp tục đổi mới nhiều hơn nữa về cách nghĩ, cách làm, sao cho văn hóa ngày càng thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa và xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong mỗi bước phát triển của kinh tế.
Đặc biệt, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng vấn đề phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ này. Nhận thức rõ vai trò của thông tin KH & CN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với sự nghiệp phát triển KH & CN nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số chủ trương và chính sách nhằm thúc đẩy công tác này. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định hoạt động thông tin, tuyên truyền và phổ cập kiến thức KH&CN là một trong 8 giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Trong đó nêu rõ: “Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung, những hiểu biết thường thức về khoa học tự nhiên và công nghệ, bảo vệ môi trường trong nhân dân đặc biệt là vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người, hình thành lối sống văn minh và sự lành mạnh của môi trường xã hội. Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin KH & CN về lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp đặc biệt là thông tin công nghệ. Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin về KH & CN nước ngoài.tr 74] Đối với hoạt động thông tin KH & CN ở nước ta nói chung, đối với Trung tâm TTTL nói riêng đây là sự định hướng chiến lược cực kỳ quan trọng, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và đặc thù phát triển của đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đặc biệt Nghị quyết đã khẳng định về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: “ Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người” [7.
tr65], và từ nay đến năm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Dựa trên việc phân tích một cách sâu sắc các cơ hội và thách thức đối với dân tộc ta trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, về khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá, Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định: khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; phát triển khoa học công nghệ là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.