CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỂ PHÁT TRIỂN CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TÊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỂU KIỆN HỘI NHẬP 1. Tổng quan về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại 1. Những vấn đề CO' bản về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Ngày nay, hoạt động của hệ thống NHTM có ảnh hưởng sâu rộng cả ở tầm vi mô lẫn vĩ mô của nền kinh tế - xã hội.
Sự thành công trong phát triển kinh tế cũng như những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu vừa qua lại càng minh chứng cho vai trò quan trọng của hệ thống NHTM. Theo Luật các TCTD 2010 của Việt Nam quy định: Ngán hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng họp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhàm mục tiêu lợi nhuận.[17 ] Như vậy NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nhằm mục đích thu lợi nhuận thông qua cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính nhằm thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng trên thị trường.
Đứng trên phương diện khách hàng, NHTM trước hết đóng vai trò tập trung và cung ứng vốn cho quá trình sản xuất; tiếp theo thực hiện vai trò trung gian thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa trong nước và quốc tế; cuối cùng NHTM góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. NHTM như là một hệ thống mạch máu tham gia vào tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thông qua việc các cung ứng các sản phẩm, dịch vụ NH. 7 Hoạt động NH là một loại hình dịch vụ, vì vậy sản phẩm NH có những đặc trưng cơ bản của dịch vụ đồng thời là có những đặc trưng riêng của lĩnh vực NH. Trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới WTO không đưa ra khái niệm về dịch vụ mà liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn, mỗi ngành lớn chia làm các phân ngành (55 phân ngành), trong mồi phân ngành lại liệt kê chi tiết các loại dịch vụ cụ thể, dịch vụ NH được đặt trong ngành dịch vụ tài chính.
Theo GATS: Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tỉnh chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính thực hiện. Dịch vụ tài chỉnh bao gồm mọi dịch vụ bảo hiêm và dịch vụ liên quan tới bảo hiếm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Nhìn vào danh mục này, có thể đưa ra khái niệm sau đây về dịch vụ NH: Sản phàm, dịch vụ NH là một dạng hoạt động, một quá trình, một kinh nghiêm được cung ứng bởi NH nhằm đáp ứng một nhu cầu và mong muon của khách hàng mục tiêu. Dịch vụ NH tồn tại dưới dạng dịch vụ mang bản chất tài chỉnh.[24, trang 329] Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác nhau sẽ tập họp những đặc điểm, nhu cầu khác nhau của khách hàng, trên có sở đó thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu đó, một sổ dịch vụ NH cung cấp cho khách hàng: dịch vụ tiền gửi ký thác; dịch vụ cho vay; dịch vụ thanh toán; dịch vụ tư vấn; dịch vụ liên quan đển hoạt động kinh doanh chứng khoán, dịch vụ cho thuê két sắt; dịch vụ thẻ; dịch vụ cung cấp thông tin V.
Theo các chuyên gia NH, sản phẩm, dịch vụ NH có 2 thuộc tính cơ bản quyết định toàn bộ quá trình hình thành, cung ứng, quản lý và khai thác sản phâm của các NH là thuộc tính dịch vụ và thuộc tính tài chính. > Thuộc tính dịch vụ của sản phẩm NH Sản phâm NH thê hiện thuộc tính dịch vụ ở các khía cạnh sau đây: - Tính vô hình: các sản phấm, dịch vụ NH không nhìn thấy được, nghe 8 được, cầm nắm được mà khách hàng chỉ có thể cảm nhận được thông qua chất lượng của dịch vụ qua đó phản ánh sự an toàn, niềm tin vào NH. - Tính không thể tách rời: quá trình cung cấp và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ NH được diễn ra đồng thời, khách hàng tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm, dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại thành phẩm khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay, quy trình thu hồi nợ.
Điều này làm cho sản phẩm NH không có sản phẩm dở dang, sản phẩm lưu kho mà chỉ được cung ứng trực tiếp khi khách hàng có nhu cầu. - Tính không đồng nhất: chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ NH thường không thể xác định trước, nó phụ thuộc vào người thực hiện, thời gian, địa điểm thực hiện và đánh giá của khách hàng. Những yếu tố này lại phụ thuộc vào cơ sở vật chất, quy trình nghiệp vụ, trình độ chuyên môn và môi trường bên ngoài tác động. - Tính không lưu giữ được: các sản phẩm, dịch vụ NH mang đặc tính vô hình, do vậy không thể lưu kho.
Để đáp ứng những giai đoạn nhu cầu tăng đột biến NH cần phải tăng cường nhân lực, phương tiện để phục vụ khách hàng, những giai đoạn nhu cầu giảm tlù NH vẫn phải duy trì những chi phí cho các yểu tố đầu vào, không thể cắt giảm, vì vậy chi phí dịch vụ của NH thường tương đổi cao. > Thuộc tính tài chính Thuộc tính này được phản ánh là tính riêng tư, bảo mật và sự nhạy cảm về các thông tin liên quan đến tài chính của một cá nhân, một tố chức bất kỳ. Thậm chí theo nghiên cứu của tập đoàn Visa vào đầu năm 2006, người tiêu dùng ngại bị lộ thông tin tài chính còn cao hơn cả vấn đề khủng bố. Thuộc tính tài chính được xem là một trong những trở ngại hoặc rào cản lớn nhất của các tô chức cung cấp dịch vụ NH trong quá trình hình thành, cung ứng, khai thác và quản lý sản phẩm.
Cấu trúc của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Sản phẩm, dịch vụ NH có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ tăng thêm giá trị cho khách hàng và được NH dùng để tạo ra sự khác biệt với các sản phẩm, dịch vụ khác của đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở cấp độ này 9 các NH sẽ tiến hành các hoạt động marketing khác nhau đế khai thác hiệu quả sản phẩm của mình. Theo truyền thống, sản phẩm NH được chia thành 3 cấp độ sau đây: Hình 1. Cấu trúc của sản phẩm, dịch vụ NH Nguồn: [24] - Sản phẩm cơ bản: là cấp độ cổt lõi và quan trọng nhất của một sản phâm.
Đây là cấp độ liên quan đến lợi ích cơ bản mà sản phẩm được giả định sẽ cung cấp hoặc thực sự cung cấp nhằm thỏa mãn những nhu cầu về sản phâm tài chính - NH của khách hàng như khả năng rút tiền mặt, tính an toàn của tài sản, chuyến tiền, vay trả góp, tư vấn tài chính. Nói chung, mọi sản phẩm NH đều có thể quy về ít nhất một trong những nhu cầu cốt lõi này. Nói cách khác, sản phẩm cơ bản sẽ giải đáp cho các NH biết lý do khách hàng “đến, sử dụng sản phẩm, dịch vụ và mang lại lợi nhuận” cho NH và chính khách hàng. - Sản phẩm thực: là cấp độ thứ hai của sản phẩm, chứa đựng trong nó nội hàm của sản phẩm cơ bản cùng các thuộc tínhcụ thể hình thành nên “sản phẩm mà khách hàng đang muốn sử dụng bao gồm thiết kế của sản phẩm (điều kiện, điều khoản, lãi suất và các yêu cầu theo luật định) và các yếu tố cần thiết khác (giấy đề nghị, màu sắc của thẻ, của sổ tài khoản).
- Sản phẩm gia tăng: là cấp độ thứ ba của sản phẩm, nhắm đến việc thỏa 10 mãn, đáp ứng tốt hon sự mong đợi của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ NH. Cấp độ ba của sản phẩm được gọi là hệ thống hỗ trợ phục vụ khách hàng bao gồm thời gian xử lý hồ sơ, giấy tờ, giờ mở cửa, thái độ của nhân viên, hỗ trợ sau bán hàng.[24] Nhìn chung hiện nay hầu hết các hoạt động cạnh tranh giữa các NH đều cung cấp sản phẩm ở mức độ gia tăng, cho phép tạo ra sự khác biệt của NH khi cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên theo Philip Kotler, một chuyên gia marketing hàng đầu thể giới lại cho rằng một sản phẩm ngoài 3 cấp độ nói trên còn có thể bổ sung 2 cấp độ nữa là: - Sản phẩm kỳ vọng: gồm toàn bộ các thuộc tính và điều kiện mà khách hàng thưòng mong đợi nhận được từ sản phẩm và các NH thưòng ghi trong những quy định về điều kiện, điều khoản của họp đồng. Các yếu tố này sẽ tạo nên yêu cầu tối thiểu về sản phẩm mà khách hàng mong sẽ nhận được.
- Sản phẩm tiềm năng: bao gồm mọi yểu tố có thể đưa thêm vào sản phẩm và khả năng biến đổi của sản phẩm trong tương lai nhằm nỗ lực làm khách hàng của mình ngạc nhiên bằng cách không phải chỉ đạt mà còn vượt quá sự mong đợi của khách hàng và thông qua đó tạo nên sự khác biệt giữa các NH. Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Căn cứ vào loại hoạt động kinh doanh mà NH cung cấp cho khách hàng có tính chất quốc tế hay không, hay căn cứ vào phạm vi cung ứng dịch vụ NH có ra ngoài một quốc gia hay không, có thể chia các sản phâm, dịch vụ NH thành 2 mảng: nghiệp vụ ngân hàng đối nội và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Theo đó, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế bao gồm tất cả các dịch vụ tài chỉnh do khách hàng yêu cầu có liên quan đến thương mại quốc tế, đâu tư quôc tế, du lịch quổc tế., hay nói cách khác, đó là việc NH thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư và cung ứng các dịch vụ tài chỉnh, ngân hàng trên thị trường quốc tế nhằm mục đích sinh lời.
Thực chát, đó là sự mở rộng phạm vỉ hoạt động nghiệp vụ NH đoi nội ra ngoài biên giới quốc gia để hòa nhập, giao dịch với các NH khác trên thê giới.