Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Làng nghề thủ công truyền thống giữ vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa sinh kế, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ chế thị trường, nhiều làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ thu hẹp quy mô sản xuất hoặc mai một. Nghề chằm nón lá tại xã Thủy Thanh (thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế) có lịch sử hình thành và phát triển qua hàng trăm năm, gắn liền với di tích Cầu ngói Thanh Toàn và đời sống văn hóa của cư dân địa phương. Mặc dù địa phương đã có định hướng kết hợp khôi phục làng nghề với phát triển du lịch cộng đồng, hoạt động sản xuất nón lá tại Thủy Thanh vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn: sản xuất manh mún, thị trường tiêu thụ bấp bênh, giá trị kinh tế thấp và tình trạng lực lượng lao động trẻ không còn mặn mà với nghề. Thêm vào đó, giai đoạn 2019–2021 chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19 khiến nguồn thu từ nghề nón sụt giảm mạnh. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Thực trạng phát triển nghề nón lá trên địa bàn xã Thủy Thanh – thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế" được thực hiện nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về tình hình sản xuất, kinh doanh của làng nghề và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững.

Khóa luận xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về nghề thủ công truyền thống, khóa luận trình bày, đánh giá thực trạng phát triển nghề thủ công truyền thống nói chung và nghề nón lá trên địa bàn xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; từ đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy phát triển nghề nón lá tại địa phương.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế làng nghề thủ công truyền thống nói chung và làng nghề nón lá nói riêng.
    • Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề nón lá tại xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    • Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển làng nghề nón lá tại xã Thủy Thanh trong những năm tiếp theo.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình trực tiếp sản xuất nón lá trên địa bàn xã Thủy Thanh và Cơ sở sản xuất nón lá Nguyễn Thị Kiềm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp về kinh tế – xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh thu thập trong giai đoạn 2019–2021; số liệu sơ cấp phản ánh tình hình hoạt động của 50 hộ gia đình làm nón qua 3 năm (2019–2021), được điều tra trong năm 2022.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các khía cạnh lý luận, thực tiễn và thực trạng kinh tế của hoạt động sản xuất, kinh doanh nón lá gắn với bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm, quy định pháp lý và tiêu chí kinh tế về phát triển làng nghề truyền thống:

  • Khung pháp lý và khái niệm: Vận dụng các định nghĩa về nghề truyền thống, làng nghề và chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/04/2018 của Chính phủ; Quyết định số 111/QĐ-UBND năm 2015 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề truyền thống và làng nghề tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; Quyết định số 29/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về Quy chế công nhận làng nghề truyền thống; Quyết định số 1347/QĐ-SHTT ngày 19/07/2010 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00020 cho sản phẩm nón lá "Huế".
  • Hệ thống tiêu chí đánh giá: Khóa luận sử dụng 3 nhóm tiêu chí gồm: nhóm số lượng (số lượng cơ sở, số lao động, sản lượng sản phẩm); nhóm chất lượng (thị trường tiêu thụ, độ tinh xảo, mẫu mã sản phẩm, doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu theo công thức $\text{Tỷ suất LN/DT} = \frac{\text{Lợi nhuận}}{\text{Doanh thu}} \times 100%$); nhóm cơ cấu (cơ cấu số lượng và chủng loại sản phẩm).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế – xã hội hàng năm của UBND xã Thủy Thanh giai đoạn 2019–2021, số liệu tài chính – sản xuất từ Cơ sở nón lá Nguyễn Thị Kiềm, các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu thống kê của Sở Công Thương và Cổng thông tin điện tử tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra khảo sát trực tiếp 50 hộ làm nón lá trên địa bàn xã bằng bảng hỏi có cấu trúc. Do chưa có danh sách tổng thể quy mô các hộ, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, tiếp cận mẫu thông qua cơ sở thu mua nón Nguyễn Thị Kiềm, cơ sở sản xuất lá nón và vành tại xã Thủy Vân (thành phố Huế) cùng các tiểu thương bán lẻ tại chợ Cầu Ngói, chợ Sam; kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ chính quyền địa phương.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh số tuyệt đối và số tương đối, phân tích cơ cấu tỷ lệ. Toàn bộ dữ liệu khảo sát và thứ cấp được tổng hợp, tính toán trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề thủ công truyền thống và đặc thù của nghề làm nón lá xứ Huế. Tác giả làm rõ 5 vai trò kinh tế - xã hội chủ yếu của làng nghề truyền thống: thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông nhàn; thu hút vốn nhàn rỗi và hạn chế di dân tự do; đa dạng hóa kinh tế nông thôn gắn với đô thị hóa; bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, chương này phân tích 5 nhóm yếu tố tác động đến sự phát triển của làng nghề: chính sách nhà nước, nguồn vốn sản xuất, giá cả và thị trường tiêu thụ, kết cấu hạ tầng giao thông - thông tin, và yếu tố nghệ nhân truyền thống.

Về quy trình kỹ thuật nón lá Huế, văn bản nêu rõ đặc thù nguyên liệu sử dụng lá nón (Licuala Fatoua Becc) thu hoạch từ A Lưới và Nam Đông, khuôn chằm bằng gỗ gồm 12 thanh đứng và 16 nấc vành tre vót tròn. Về mặt thực tiễn, chương 1 tổng hợp kinh nghiệm phát triển làng nghề của 5 quốc gia (chính sách thuế và xí nghiệp Hương Trấn tại Trung Quốc; Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống năm 1974 tại Nhật Bản; mô hình xưởng thủ công du lịch tại Hàn Quốc; phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" - OTOP tại Thái Lan; chương trình phát triển tiểu thủ công nghiệp 5 năm tại Indonesia) và 4 địa phương trong nước (Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế). Từ đó, tác giả rút ra 8 bài học kinh nghiệm áp dụng cho xã Thủy Thanh: không xem nhẹ vai trò nghề truyền thống; khai thác lợi thế so sánh địa phương; quy hoạch làng nghề gắn với du lịch nông thôn mới; ứng dụng khoa học kỹ thuật phù hợp; đa dạng hóa mẫu mã; đẩy mạnh xúc tiến hội chợ - triển lãm; phát huy vai trò hiệp hội làng nghề; chú trọng chính sách đãi ngộ nghệ nhân và truyền nghề cho lớp trẻ.

Chương 2: Thực trạng phát triển nghề nón lá trên địa bàn xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 2 trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thủy Thanh và đi sâu phân tích thực trạng sản xuất của 50 hộ khảo sát cùng cơ sở nón lá Nguyễn Thị Kiềm. Về điều kiện địa bàn, Thủy Thanh có diện tích tự nhiên 851,92 ha (đất nông nghiệp chiếm 71,97% với 613,14 ha; đất lúa 545,76 ha); dân số năm 2021 là 10.390 người, mật độ dân số đạt 1.080 người/km², cao gấp 4,7 lần bình quân toàn tỉnh.

Chỉ tiêu kinh tế - xã hội xã Thủy Thanh Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 So sánh 2021/2020 (+/-)
Tổng giá trị sản xuất (tỷ đồng) 910,43 926,50 975,57 +49,07
- Du lịch – dịch vụ (tỷ đồng) 652,62 693,80 740,64 +46,84
- Nông nghiệp (tỷ đồng) 123,96 110,20 102,40 -7,80
- Công nghiệp – xây dựng (tỷ đồng) 133,85 122,50 132,53 +10,03
GDP bình quân đầu người (triệu đồng/năm) 40,59 43,00 45,13 +2,13
Dân số trung bình (người) 9.882 - 10.390 -
Tổng số hộ (hộ) 2.753 - 2.930 -
Số hộ nghèo theo chuẩn mới (hộ) 79 60 57 -3
Tỷ lệ hộ nghèo (%) 2,87 2,15 1,95 -0,20%
Lao động được giải quyết việc làm mới (người) 600 580 615 +35

Toàn xã có khoảng 60 hộ làm nón, tập trung lớn nhất tại thôn Vân Thê Nam (40%) và Vân Thê Trung (28%). Mẫu khảo sát 50 hộ cho thấy đặc điểm lao động và sản xuất như sau:

Chỉ tiêu khảo sát 50 hộ làm nón Giá trị / Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng số nhân khẩu điều tra 223 người -
- Nhân khẩu bình quân 1 hộ 4,46 người/hộ -
- Số lao động bình quân 1 hộ 2,88 người/hộ -
Số lao động trực tiếp làm nón 67 người 30,04% tổng số khẩu
- Số lao động làm nón bình quân 1 hộ 1,34 người/hộ -
Trình độ văn hóa người làm nón
- Tiểu học 19 người 38,0%
- Trung học cơ sở 19 người 38,0%
- Trung học phổ thông 12 người 24,0%
- Cao đẳng / Đại học 0 người 0,0%
Độ tuổi lao động làm nón
- Dưới 25 tuổi 8 người 16,0%
- Từ 25 đến 54 tuổi 12 người 24,0%
- Từ 55 tuổi trở lên 30 người 60,0%
Thâm niên nghề của người làm nón
- Dưới 5 năm 10 người 20,0%
- Từ 5 đến 10 năm 2 người 4,0%
- Từ 10 đến 20 năm 6 người 12,0%
- Từ 20 đến 30 năm 11 người 22,0%
- Trên 30 năm 21 người 42,0%

Về chủng loại sản phẩm, xã Thủy Thanh sản xuất 3 loại nón chính: nón lá xanh truyền thống (chiếm 48% tổng sản lượng năm 2021), nón lá kè và nón bài thơ. Toàn bộ 100% hộ gia đình hoạt động theo quy mô tự quản, không thuê mướn nhân công ngoài gia đình; kỹ thuật truyền nghề chủ yếu qua hình thức cha truyền con nối. Thu nhập từ nghề nón chỉ đạt mức 13 đến 15 triệu đồng/hộ/năm, đóng vai trò công việc phụ nhằm tận dụng thời gian nông nhàn.

Khóa luận phân tích Cơ sở sản xuất nón lá Nguyễn Thị Kiềm (thành lập từ năm 2012 tại thôn Vân Thê Nam) với tư cách là mắt xích trung gian quan trọng trong chuỗi giá trị: vừa tổ chức sản xuất, vừa thu mua sản phẩm nón của các hộ trong làng để cung cấp cho thị trường nội tỉnh, các tỉnh miền Trung (từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi), đồng thời kết hợp phục vụ các tour du lịch trải nghiệm chằm nón cho du khách tại di tích Cầu ngói Thanh Toàn. Tuy nhiên, giai đoạn dịch bệnh Covid-19 đã làm đứt gãy thị trường khách du lịch và thương mại, khiến doanh thu và thu nhập của cả cơ sở lẫn các hộ dân sụt giảm rõ rệt.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nghề làm nón tại xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương 3 đề xuất định hướng và 7 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Tăng cường quản lý nhà nước và quy hoạch làng nghề: Rà soát, xây dựng quy hoạch không gian làng nghề nón lá gắn liền với tuyến điểm du lịch Cầu ngói Thanh Toàn và không gian "Chợ quê ngày hội".
  2. Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn: Tạo điều kiện cho các hộ sản xuất và cơ sở kinh doanh tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và quỹ khuyến công để đầu tư cải tiến công cụ sản xuất.
  3. Ổn định thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên vật liệu đầu vào: Xây dựng kênh liên kết cung ứng lá nón từ A Lưới, Nam Đông và vành nón Thủy Vân nhằm ổn định giá nguyên liệu; mở rộng thị trường phân phối ngoài tỉnh và hệ thống bán lẻ phục vụ du lịch.
  4. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm: Cải tiến kiểu dáng nón lưu niệm, phát triển dòng nón bài thơ chất lượng cao, giữ vững chỉ dẫn địa lý nón lá Huế.
  5. Đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề: Tổ chức các lớp truyền dạy nghề cho thanh niên địa phương do các nghệ nhân cao tuổi trực tiếp hướng dẫn nhằm ngăn chặn tình trạng đứt gãy thế hệ lao động.
  6. Ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật: Đưa máy móc cơ khí nhỏ hỗ trợ các khâu nặng nhọc như ủi lá, chuốt vành, chẻ tre nhằm nâng cao năng suất trong khi vẫn giữ nguyên kỹ thuật chằm tay truyền thống.
  7. Đẩy mạnh truyền thông, quảng bá sản phẩm: Tận dụng các kỳ Festival nghề truyền thống Huế, Festival Huế và các nền tảng số để quảng bá thương hiệu nón lá Thủy Thanh gắn với du lịch trải nghiệm cộng đồng.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chính

  • Đặc điểm kinh tế địa bàn: Cơ cấu kinh tế xã Thủy Thanh chuyển dịch mạnh sang nhóm ngành du lịch – dịch vụ (năm 2021 chiếm 75,92% cơ cấu giá trị sản xuất với 740,64 tỷ đồng); giá trị sản xuất toàn xã năm 2021 đạt 975,57 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 45,13 triệu đồng/người/năm.
  • Thực trạng sản xuất hộ: Nghề làm nón mang tính chất kinh tế phụ gia đình, thu nhập bình quân hàng năm chỉ ở mức 13–15 triệu đồng/hộ. Tỷ lệ lao động cao tuổi tham gia làm nghề rất cao (60% từ 55 tuổi trở lên; 42% có thâm niên trên 30 năm), trong khi nhóm lao động trẻ dưới 25 tuổi chỉ chiếm 16%. 100% hộ không thuê mướn lao động ngoài.
  • Cơ cấu sản phẩm: Nón lá xanh truyền thống chiếm tỷ trọng chủ đạo với 48% tổng sản lượng sản xuất năm 2021, bên cạnh hai dòng sản phẩm nón lá kè và nón bài thơ.
  • Vai trò của hạt nhân kinh doanh: Cơ sở Nguyễn Thị Kiềm (hoạt động từ 2012) đóng vai trò đầu mối thu gom sản phẩm và là điểm trình diễn du lịch cộng đồng, giữ vị trí chủ lực kết nối hộ sản xuất với thị trường bên ngoài.

Đóng góp của tác giả

Khóa luận đã bổ sung nguồn dữ liệu sơ cấp thực tế về thực trạng kinh tế vi mô của các hộ sản xuất nón lá tại xã Thủy Thanh trong bối cảnh chịu ảnh hưởng kép từ quá trình đô thị hóa và đại dịch Covid-19 giai đoạn 2019–2021. Đề tài làm rõ mối liên kết giữa cơ sở sản xuất tư nhân (cơ sở Kiềm) với các hộ gia đình nhỏ lẻ và mô hình du lịch cộng đồng nông thôn, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch chuyển đổi xã Thủy Thanh thành phường thuộc thị xã Hương Thủy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Do hạn chế về thời gian và khó khăn trong việc tiếp cận danh sách thống kê toàn diện các hộ sản xuất trên địa bàn xã, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên với quy mô $n = 50$ hộ thông qua các đầu mối trung gian, nên khả năng đại diện tuyệt đối cho toàn bộ địa phương có thể chưa tối ưu. Đồng thời, giai đoạn thu thập dữ liệu (2019–2021) diễn ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19, dẫn đến các chỉ số tài chính, doanh thu và lưu lượng du khách có sự biến động bất thường so với điều kiện thông thường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khóa luận mở ra hướng nghiên cứu mở rộng điều tra tổng thể toàn bộ các hộ sản xuất nón lá trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19; đồng thời đề xuất nghiên cứu sâu hơn về hành vi tiêu dùng, mức độ sẵn sàng chi trả của khách du lịch đối với sản phẩm nón lá trải nghiệm và đánh giá chuỗi giá trị du lịch làng nghề liên huyện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên và học viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Du lịch, Kinh tế Phát triển, Quản lý Kinh tế Nông thôn tham khảo về phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát hộ gia đình, phương pháp tiếp cận nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm thủ công truyền thống gắn với du lịch cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Cung cấp số liệu cụ thể về cơ cấu lao động, thu nhập và các khó khăn nội tại của làng nghề làm cơ sở xây dựng chính sách khuyến công, đào tạo nghề và quy hoạch không gian du lịch nông thôn tại xã Thủy Thanh và thị xã Hương Thủy.
  • Các nhà nghiên cứu làng nghề: Tham khảo khung bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp thương mại hóa sản phẩm thủ công.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu kinh tế xã Thủy Thanh giai đoạn 2019–2021 có đặc điểm gì nổi bật?

Ngành du lịch – dịch vụ chiếm tỷ trọng áp đảo và tăng dần qua các năm: đạt 71,68% (652,62 tỷ đồng) năm 2019, tăng lên 75,92% (740,64 tỷ đồng) năm 2021. Ngược lại, ngành nông nghiệp giảm tỷ trọng từ 13,62% (123,96 tỷ đồng) năm 2019 xuống còn 10,5% (102,4 tỷ đồng) năm 2021 do hiệu quả trồng lúa thấp, thúc đẩy chuyển dịch lao động sang dịch vụ và nghề thủ công.

2. Các hộ sản xuất nón lá tại xã Thủy Thanh phân bố tập trung ở những thôn nào?

Hoạt động sản xuất nón lá tập trung lớn nhất tại hai thôn: Vân Thê Nam với 20 hộ điều tra (chiếm 40%) và Vân Thê Trung với 14 hộ điều tra (chiếm 28%). Các thôn còn lại có quy mô nhỏ hơn gồm Thanh Toàn (10%), Thanh Tuyền (10%), Thanh Thủy (6%), Vân Thê Đập (4%) và Lang Xá Bàu (2%).

3. Thực trạng nhân khẩu và độ tuổi của lao động làm nón lá tại Thủy Thanh phản ánh vấn đề gì?

Kết quả khảo sát 50 hộ cho thấy lực lượng lao động làm nón đang bị già hóa nghiêm trọng: 60% lao động ở độ tuổi từ 55 trở lên, 42% có thâm niên trên 30 năm, trong khi nhóm dưới 25 tuổi chỉ chiếm 16%. 100% hộ gia đình không thuê mướn lao động ngoài, kỹ thuật chủ yếu truyền dạy nội bộ gia đình, phản ánh nguy cơ thiếu hụt thế hệ kế cận.

4. Cơ sở nón lá Nguyễn Thị Kiềm giữ vai trò gì trong hoạt động của làng nghề?

Cơ sở Nguyễn Thị Kiềm (hoạt động từ 2012 tại thôn Vân Thê Nam) là đầu mối thu mua nón của các hộ dân trong xã để phân phối ra thị trường nội tỉnh và miền Trung; đồng thời đóng vai trò trạm đón tiếp khách du lịch tham quan, trải nghiệm chằm nón trong mô hình du lịch cộng đồng gắn với Cầu ngói Thanh Toàn.

5. Loại nón nào được sản xuất nhiều nhất tại xã Thủy Thanh và thị trường tiêu thụ chính ở đâu?

Nón lá xanh truyền thống là sản phẩm sản xuất chủ lực, chiếm 48% tổng sản lượng nón của xã năm 2021 (bên cạnh nón lá kè và nón bài thơ). Thị trường tiêu thụ nón chủ yếu cung cấp cho địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung trải dài từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Minh Châu đã phân tích bức tranh kinh tế - xã hội và thực trạng sản xuất nón lá tại xã Thủy Thanh giai đoạn 2019–2021 dựa trên dữ liệu thứ cấp từ chính quyền và khảo sát sơ cấp 50 hộ làm nghề. Nghiên cứu chỉ ra những rào cản nội tại của làng nghề như sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập thấp (13–15 triệu đồng/hộ/năm), lao động già hóa và biến động tiêu thụ do dịch Covid-19, đồng thời khẳng định vai trò cầu nối của cơ sở Nguyễn Thị Kiềm trong liên kết du lịch cộng đồng. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác bảo tồn nghề truyền thống gắn với định hướng nâng cấp hành chính xã Thủy Thanh thành phường.