CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm về phân tích Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó. Trong tự nhiên, việc chia nhỏ được tiến hành với những vật thể bằng các phương tiện cụ thể. Phân tích hiện trạng của ngành là phân tích các mối quan hệ của các yếu tố cơ bản ở tầm vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến ngành cần nghiên cứu.
Thông qua việc phân tích hiện trạng của ngành, người sử dụng thông tin có thể đánh giá triển vọng của ngành trong tương lai. Khái niệm về hiệu quả Thực tế cho thấy, hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Trong công tác quản lý ngành, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở những dạng khác nhau. Việc phân loại hiệu quả hoạt động ngành theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý.
Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả hoạt động của ngành từ đó đề ra những giải pháp góp phần phát triển ngành. Ngoài ra, phân tích về hiệu quả còn liên quan đến tính hiệu quả và hợp lý của các chính sách điều hành hay can thiệp của Chính phủ cũng như các định chế có liên quan. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh xã hội của nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế xã hội mà ngành Viễn thông mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh ngành Viễn GVHD: PGS-TS Võ Thành Danh HVTH: Thái Thanh Tùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ kinh tế 18 thông vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu cho ngân sách,… Trong quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh ngành Viễn thông không những tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động của từng người, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán và quan trọng hơn phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân. Giữa hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả kinh doanh cá biệt có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau.
Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đầu tư nhiều dự án trong ngành hiệu quả chưa cao, thậm chí bị lỗ, nhưng nền kinh tế vẫn thu được hiệu quả. Ví dụ, đầu tư vào những vùng hẻo lánh, xa xôi, hải đảo, tuy chưa mang lại lợi nhuận, nhưng nó thực hiện được nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao cho. Do đó ngành Viễn thông cần quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội, đó là tiền đề và điều kiện cho ngành kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong những điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đưa ra thị trường sản phẩm, dịch vụ của mình đối với một chi phí cá biệt nhất định và doanh nghiệp nào cũng muốn được tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cao nhất. Tuy vậy, khi đưa hàng hóa, dịch vụ của mình ra thị trường thì họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trường, sản phẩm, dịch vụ của họ có mức giá tương đương với giá thị trường. Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức trung bình của xã hội về hao phí để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa, dịch vụ.
Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả của thị GVHD: PGS-TS Võ Thành Danh HVTH: Thái Thanh Tùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ kinh tế 19 trường. Suy cho cùng chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng tại mỗi doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện ở các dạng chi phí cụ thể: giá thành sản xuất, chi phí ngoài sản xuất. Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành nói chung được tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành. Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong ngành là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh nên các đơn vị này phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá trình đó.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản: - Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, lựa chọn phương án có lợi nhất. Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất hoặc từ một đồng vốn bỏ ra.
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án. Trên thực tế, để thực hiện nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một giải pháp) mà có thể đưa ra nhiều cách làm khác nhau. Mỗi một cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư, lượng chi phí, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn khác nhau.
GVHD: PGS-TS Võ Thành Danh HVTH: Thái Thanh Tùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ kinh tế 20 Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự trói mình vào một cách làm mà phải vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó để chọn ra một phương án có lợi nhất. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong ngành Viễn thông có mối quan hệ chặt chẽ với nhau song chúng lại có tính độc lập tương đối. Trước hết xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh. Nghĩa là trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau.
Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh. Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của phương án. Các bước tiến hành và tổ chức phân tích 1.
Yêu cầu của phân tích, đánh giá Muốn công tác phân tích hiện trạng hoạt động ngành mang ý nghĩa thực tiễn, làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp phát triển ngành, thì công tác phân tích hiện trạng hoạt động ngành phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: 1. Tính đầy đủ Nội dung và kết quả phân tích thực trạng ngành phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ nguồn dữ liệu sưu tập: những dữ liệu thống kê phản ánh hiện trạng ngành cần đánh giá bao gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng, tác động đến ngành. GVHD: PGS-TS Võ Thành Danh HVTH: Thái Thanh Tùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ kinh tế 21 1. Tính chính xác Chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác về nguồn dữ liệu khai thác; phụ thuộc vào sự chính xác lựa chọn phương pháp phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích.
Tính kịp thời Sau mỗi quý, năm, giai đoạn thực hiện quy hoạch ngành, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động của ngành, nắm bắt được mặt làm được, chưa làm được (mặt tồn tại) của ngành để đề xuất những giải pháp cho thời kỳ hoạt động tiếp theo của ngành đạt hiệu quả hơn. Nguồn dữ liệu phân tích Khi thực hiện phân tích thực trạng hoạt động của ngành cần phải thu thập những dữ liệu sau: - Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ quản lý chuyên ngành và các báo cáo, đánh giá, tư liệu, … liên quan đến ngành Viễn thông. - Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng của các doanh nghiệp trong ngành. - Phỏng vấn chuyên sâu một số vị lãnh đạo quản lý chuyên ngành Viễn thông và các ngành có liên quan, các nguồn dữ liệu khác như trên internet, các phương tiện thông tin đại chúng.
Trình tự thực hiện phân tích 1. Thu thập tài liệu và xử lý dữ liệu Đây là bước quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phân tích. Tài liệu thu thập phải đầy đủ, không mâu thuẫn giữa các số liệu thu thập. Tài liệu và số liệu phải được sưu tập qua một số năm hoạt động và các số liệu kế hoạch dự kiến để làm cơ sở cho việc so sánh, đánh giá phân tích.
GVHD: PGS-TS Võ Thành Danh HVTH: Thái Thanh Tùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ kinh tế 22 1. Xây dựng các biểu bảng, các dữ liệu phản ảnh tình hình hoạt động, thực trạng của ngành Trên cơ sở các tài liệu, dữ liệu thu thập được xây dựng các biểu bảng, đồ thị, xác định các chỉ tiêu để nêu lên thực trạng hoạt động của ngành. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động của ngành Thực chất ở bước này là phân tích nghiên cứu nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến kết quả hoạt động, hướng phát triển ngành.