Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về logistics trong thương mại điện tử Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Sự phát triển của hoạt động logistics trong thương mại điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2015-2021 Chương 4: Giải pháp phát triển logistics trong thương mại điện tử tại Việt Nam Kết luận 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS TRONG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về ngành logistics trong TMĐT không phải là một đề tài mới. Đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài này, có thể kể tới một số bài nghiên cứu như: Tài liệu trong nước: Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (2018), “Sách trắng VLA 2018”, được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Hiệp hội. Đây là ấn phẩm cung cấp một cách đầy đủ và đáng tin cậy nhất các thông tin và số liệu về VLA nói riêng và ngành dịch vụ logistics Việt Nam nói chung, cũng như các khuyến nghị cụ thể để phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
Đây là một ấn phẩm truyền thông hữu ích không chỉ cho các DN kinh doanh dịch vụ logistics trên lãnh thổ Việt Nam sử dụng trong hoạt động kinh doanh mà còn cung cấp thông tin giúp các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo trong việc quản lý, hoạch định chính sách liên quan đến ngành dịch vụ logistics cũng như giúp các DN nước ngoài có thông tin trong việc mở rộng đầu tư, hợp tác, phát triển với các DN logistics Việt Nam. Sách trắng được xuất bản bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh với thông tin được lấy từ các nguồn điều tra trực tiếp và từ nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy và cập nhật nhất ở trong và ngoài nước. Tạ Thị Thuỳ Trang (2018), “Nghiên cứu về pháp luật Việt Nam đối với dịch vụ logistics trong hoạt động thương mại điện tử”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xem xét thực trạng và chỉ ra pháp luật trong các hoạt động thuộc dịch vụ logistics có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến chuỗi các hoạt động TMĐT tại Việt Nam.
Các tác động này đã và đang diễn ra song song với sự phổ biến và tốc độ tăng trưởng nhanh 7 chóng, liên tục của thế giới số. Vì lý do đó, dịch vụ logistics được xem là bệ phóng vững chắc cho sự bùng nổ và khẳng định giá trị kinh tế - xã hội của ngành TMĐT. Cao Cẩm Linh (2021), “Phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số”, xuất bản trên Tạp chí Tài chính, tháng 1 năm 2021. Tác giả đã nhận định trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và kinh tế số đang là xu hướng chủ đạo, các hoạt động Logistics xuyên suốt từ sản xuất tới tiêu dùng ngày càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của các ngành sản xuất, dịch vụ nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung.
Chính vì vậy, các vấn đề phát triển dịch vụ Logistics ở Việt Nam được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ tổng quan ngành dịch vụ logistics trên thế giới, bài báo liên hệ tới những cơ hội và thách thức của ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những điểm mạnh – yếu, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ Logistics Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số. Nguyễn Thị Bình, Trịnh Thị Thu Hương (2021), “Phát triển thương mại điện tử: Cơ hội và thách thức cho ngành dịch vụ logistics Việt Nam”, được xuất bản trên Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021).
Mục tiêu của bài viết là phân tích thực trạng và xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 trở về trước, từ đó đánh giá các cơ hội và thách thức đối với phát triển dịch vụ logistics. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, thực hiện tính toán từ số liệu khảo sát của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Cục Xuất khẩu - Bộ Công Thương năm 2019 về các nội dung liên quan đến TMĐT và logistics để nhận diện các cơ hội và thách thức của sự phát triển TMĐT đến ngành dịch vụ logistics. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ hội cho ngành dịch vụ logistics có thể được nhận thấy thông qua phân tích sự gia tăng của người dùng trực tuyến và DN tham gia chuyển đổi sở hữu website, lựa chọn tên miền khi xây dựng website. Các thách thức mà ngành logistics sẽ phải đối mặt là yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, có nhiều đối thủ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường logistics trong TMĐT.
Ngoài ra, các vấn đề về ứng dụng công nghệ thông tin và hành lang pháp lý 8 cũng là những thách thức lớn của ngành logistics trong TMĐT của Việt Nam trong tương lai. Tài liệu nước ngoài: Ying Yu, Xin Wang, Ray Y. Huang (2016), “E-commerce logistics in supply chain management: Practice perspective”, Procedia CIRP tập 52, Tr. Với tầm nhìn về sự phát triển của TMĐT với những mô hình kinh doanh mới, nghiên cứu đã đưa ra những mô hình logistics trong TMĐT tiên tiến nhất từ góc độ thực tiễn.
Nghiên cứu cũng xem xét tới việc triển khai mô hình trên toàn thế giới và các mô hình tương ứng cùng các kỹ thuật hỗ trợ. Thông qua phân tích, đánh giá toàn diện các công ty logistics trong TMĐT điển hình từ Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á Thái Bình Dương, các tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc từ những hoạt động này. Arkadiusz Kawa (2017), “Fulfillment service in e-commerce logistics”, LogForum tập 13, Tr. Bằng các phương pháp quan sát trực tiếp và phân tích nguồn dữ liệu sơ cấp cũng như là thứ cấp kết hợp thực hiện các cuộc phỏng vấn chuyên sâu, nghiên cứu được thực hiện nhằm trình bày và phân tích quy trình hoàn tất dịch vụ hậu cần trong TMĐT.
Tác giả đã chỉ ra và xác định các mô hình chính của các quy trình này cũng như ưu – nhược điểm của chúng. Qua đó, nghiên cứu ghi nhận các hướng phát triển của dịch vụ logistics trong TMĐT. Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ướng (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), “Nâng cao hiệu quả ngành logistics nhằm cải thiện môi trường kinh doanh”. Báo cáo này là kết quả các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, tổng hợp và phân tích dữ liệu của nhóm chuyên gia của Dự án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng Toàn diện (GIG) thuộc USAID và CIEM thực hiện từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2018.
Từ những phân tích, nhận định về hiện trạng ngành logisitics Việt Nam và những bài học kinh nghiệm quốc tế, báo cáo đã trình bày một số khuyến nghị đối với Nhà nước và các bên liên quan nhằm 9 nâng cao hiệu quả, giảm chi phí của ngành logistics là mục tiêu mà Chính phủ đặt trọng tâm cải thiện. Xuelian, Zhixue Liu, Lin Tian (2020), “The strategic analysis of logistics service sharing in an e-commerce platform”, Omega tập 92, Tr. Các tác giả khẳng định vai trò quan trọng của dịch vụ hậu cần trong việc thúc đẩy mua hàng trực tuyến, đồng thời cũng là một trong những hoạt động tốn kém nhất đối với TMĐT. Nhận thấy sự thay đổi của xu hướng chia sẻ dịch vụ hậu cần giữa DN với DN, các tác giả đã phân tích và đánh giá những lợi – hại của việc chia sẻ dữ liệu logistics trong TMĐT giữa các DN.
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi mức độ dịch vụ logistics của các nhà cung cấp bên ngoài và tiềm năng của thị trường tương đối thấp thì phương thức cân bằng thích hợp là “Không chia sẻ”. Ngược lại, khi mức độ dịch vụ hậu cần của các nhà cung cấp bên ngoài và tiềm năng thị trường tăng lên thì phương thức cân bằng chuyển dần sang “Chia sẻ”. Những kết quả này sẽ giúp các DN vận dụng phương thức phù hợp, linh hoạt hơn nhằm đạt được lợi ích cao nhất. Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) (2021), Báo cáo tóm tắt “Nghiên cứu đánh giá khu vực kinh tế tư nhân: Kiến tạo thị trường tại Việt Nam”.
Đây là một tài liệu của nhóm Ngân hàng Thế giới với nội dung chính về tăng cường vai trò của khu vực tư nhân trọng và sau đại dịch COVID-19: Cứu trợ, tái cấu trúc và phục hồi bền vững. Sau đại dịch, Việt Nam cũng như các nền kinh tế khác trên thế giới đều phải chịu những ảnh hưởng nặng nề, cơ cấu nền kinh tế có nhiều sự thay đổi, mọi lĩnh vực của nền kinh tế cũng có những biến chuyển lớn bao gồm cả TMĐT và logistics. Mục tiêu của nghiên cứu Đánh giá Khu vực Tư nhân Việt Nam là xem xét các cơ hội và thách thức của nền kinh tế nói chung cũng như một số ngành cụ thể nói riêng trong tăng cường phát triển khu vực kinh tế tư nhân và tạo thuận lợi cho đầu tư vào Việt Nam. Nghiên cứu gắn liền với các ưu tiên chiến lược của Chính phủ và các chương trình, ưu tiên chính sách của Nhóm Ngân hàng Thế giới.
Tài liệu này dựa trên nhiều nguồn dữ liệu, bao gồm các tài liệu nghiên cứu 10 sẵn có (kể cả nghiên cứu ngành), và từ cán bộ của Nhóm Ngân hàng Thế giới, các khảo sát DN, dữ liệu tần suất cao/thời gian thực do các công ty tư nhân thu thập, các phỏng vấn và tham vấn với khu vực tư nhân, cơ quan chức năng của Việt Nam và các bên liên quan khác. Chia-Nan Wang, Thanh-Tuan Dang, Ngoc-Ai-Thy Nguyen (2021), “Outsourcing reverse logistics for E-commerce retailers: A two-stage fuzzy optimization approach”, xuất bản trên tạp chí Axioms ngày 14/03/2021. Trong bối cảnh đại dịch covid-19, sự gia tăng nhanh chóng của TMĐT làm nâng cao vai trò của logistics ngược trong sự phát triển bền vững của DN như một quá trình tái sử dụng, tái sản xuất và phân phối lại sản phẩm. Do đó, thuê ngoài 3PRLP là một trong những chiến lược quan trọng đối với các DN TMĐT hiện nay.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phát triển một hệ thống hỗ trợ các DN trong việc lựa chọn và đánh giá các 3PRLP khác nhau bằng cách tiếp cận ra quyết định đa tiêu chí kết hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng “thời gian dẫn đầu”, “tiếng nói của khách hàng”, “chi phí”, “chất lượng”, … là những yếu tố chi phối nhiều nhất khi lựa chọn 3PRLP.