Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 Chƣơng: - Chƣơng I: Tổng quan về dịch vụ logistics và các nhà cung cấp dịch vụ logistics - Chƣơng II: Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trên thị trƣờng miền Nam Việt Nam. - Chƣơng III: Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trên thị trƣờng miền Nam Việt Nam. NHẬN VIẾT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ZALO: 0909232620 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS 1. Khái niệm logistics “Logistics” là thuật ngữ mới chỉ đƣợc sử dụng trong vài thế kỷ gần đây, nhƣng sự tồn tại của logistics thì đã đồng hành cùng loài ngƣời từ rất lâu kể từ khi con ngƣời biết tích trữ, phân chia, trao đổi, vận chuyển… những vật phẩm mình làm ra.
Khoảng 2700 trƣớc Công Nguyên, kỹ thuật vận chuyển và xử lý nguyên vật liệu trong quá trình xây dựng kim tự tháp Ai Cập – Giza – cao 146 mét, nặng 6 triệu tấn quả là đáng kinh ngạc và chắc chắn phải có những giải pháp logistics hoàn hảo mà chúng ta chƣa thể tìm hiểu hết. Nhƣ phát minh ra tàu có mái chèo – công cụ quan trọng – giải pháp vận chuyển trong chuỗi hoạt động logistics vào khoảng 300 năm trƣớc Công Nguyên cũng là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự tồn tại logistics. Còn nhiều các dấu mốc đánh dấu sự phát triển logistics nhƣ: Công trình xây dựng nhà thờ Mezquita, Cordoba, Tây Ban Nha khoảng 700 năm sau Công Nguyên nổi tiếng với những mái vòm theo kiểu kiến trúc Hồi Giáo và 856 cây cột làm từ các loại đá quí đƣợc chế tác và vận chuyển về từ các nƣớc trên thế giới; Năm 1500 dịch vụ bƣu chính với cam kết giao hàng đúng hạn lần đầu tiên ra đời tại Châu Âu; Khoảng những năm 1800, động cơ hơi nƣớc và các ứng dụng của nó vào phƣơng tiện vận tải đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy…đã mở ra kỷ nguyên phát triển cho ngành logistics; Phục vụ cho Chiến tranh thế giới lần thứ I và II, nhiều các giải pháp logistics đã đƣợc các bên áp dụng rất hiệu quả trong việc điều binh, vận chuyển lƣơng thực, khí tài, quân trang, quân phục… Thập niên 1970 – 1980 các công ty cung cấp dịch vụ logistics ngày càng xuất hiện nhiều hơn và mô hình Just-in-time đƣợc ngƣời Nhật phát kiến; Những năm 1990, thì logistics đã đánh dấu trên thị trƣờng thƣơng mại qua việc ứng dụng các NHẬN VIẾT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ZALO: 0909232620 mô hình QR (Quick Response – đáp ứng nhanh), ECR (Efficient Consumer Response – đáp ứng ngƣời tiêu dùng hiệu năng). Theo Hội đồng kinh tế xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC), quá trình phát triển của logistics những năm gần đây đƣợc chia thành 3 giai đoạn: * Giai đoạn 1: Phân phối vật chất (Physical Distribution): Giai đoạn này bắt đầu từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX.
Vào thời kỳ này ngƣời ta quan tâm đến việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng thành phẩm và bán thành phẩm…. cho khách hàng. Đó là những hoạt động vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý hàng tồn kho, bao bì, đóng gói… Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất. * Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (Logistics System): Diễn ra vào thập niên 1980s và 1990s của thế kỷ XX với điểm nổi bật chính là các công ty kết hợp hai mặt: đầu vào (cung ứng vật tƣ) với đầu ra (phân phối sản phẩm), nhằm tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả của quá trình này.
Sự kết hợp này chính là hệ thống logistics. * Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management): Diễn ra vào những năm cuối của thế kỷ XX cho tới nay. Khái niệm bao trùm mang tính chiến lƣợc là quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ ngƣời cung cấp - ngƣời sản xuất và khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng với các giá trị gia tăng nhƣ tạo lập và cung cấp các chứng từ liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm gia tăng giá trị sản phẩm. Dễ dàng nhận thấy khái niệm này sự coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với ngƣời cung ứng khách hàng cũng nhƣ những ngƣời liên quan tới hệ thống quản lý nhƣ các công ty vận tải, kho bãi và những ngƣời cung cấp công nghệ thông tin.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và đƣợc xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics khác nhau, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics” đƣợc giải thích nhƣ sau: Logistics đƣợc hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lƣu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. NHẬN VIẾT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ZALO: 0909232620 Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (CLM), nay đổi tên thành Hội đồng các nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (The Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP), logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển, lƣu kho hàng hóa, xử lý thông tin, cùng với các dịch vụ liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lƣu kho có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Đại học Hàng Hải thế giới - World Maritime University, D. Lambert 1998) Theo khái niệm của Liên hiệp quốc sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phƣơng thực và quản trị logistics tổ chức tại Đại Học Ngoại Thƣơng Hà Nội (tháng 10/2002), logistics là hoạt động quản lý quá trình lƣu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay ngƣời tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
Theo Coyle, Bardi & Langley, logistics là phần quá trình của chuỗi cung ứng giữ vai trò lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát hiệu quả dòng chảy và việc cất giữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm nguồn tới điểm tiêu thụ với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Ngoài ra, còn có các cách định nghĩa khác về logistics. Tuy nhiên, qua các khái niệm trên, có thể thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm, đó là quá trình lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay ngƣời tiêu dùng. Phân loại logistics Logistics là một khái niệm rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực và đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
NHẬN VIẾT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ZALO: 0909232620 1. Theo hình thức - Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics): Ngƣời chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. - Logistics bên thứ 2 (2PL – Second Party Logistics): Ngƣời cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 là ngƣời cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics nhƣ vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán.) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. - Logistics bên thứ 3 (3PL – Third Party Logistics): Ngƣời này thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
- Logistics bên thứ 4 (4PL – Forth Party Logistics): Là ngƣời tích hợp, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng, vận hành các giải pháp chuỗi logistics. - Logistics bên thứ 5 (5PL – Fifth Party Logistics): Đã đƣợc nhắc đến trong những năm gần đây. Đây là hình thức phát triển cao hơn của logistics bên thứ tƣ đi cùng với sự phát triển của thƣơng mại điện tử. Theo phạm vi Đƣợc phân chia làm 4 loại sau: - Logistics trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Business Logistics): Mỗi lĩnh vực kinh doanh, đối tƣợng hàng hóa cụ thể sẽ có các cách thức bảo quản, vận chuyển, quản lý hàng khác nhau.
Do đó, chuỗi logistics của mỗi đối tƣợng đó lại có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn: + Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG – Fast Moving Consumer Goods): Với loại hàng hóa này, yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng, thời gian từ khi hàng đƣợc sản xuất ra cho đến khi tới tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. + Logistic ngành ô tô (Automotive Logistic): Ngành này đòi hỏi sự liên kết phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất các chi tiết phụ tùng riêng lẻ, đảm bảo thời gian cuối của công đoạn này là thời gian đầu của công đoạn sau, tránh thời gian chờ đợi. Đặc biệt quan trong là việc dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế.
NHẬN VIẾT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ZALO: 0909232620 + Ngoài ra còn có các loại nhƣ: Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics); Logistics ngành dƣợc phẩm (Pharmaceutical Logistics); Logistics dầu khí (Petroleum Logistic)…. - Logistics quân sự ( Millitary Logistics): Hoạch định, hợp nhất mọi phƣơng diện của sự hỗ trợ cho khả năng tác chiến của quân đội (trong việc triển khai quân hoặc đóng quân) và các thiết bị quân sự đảm bảo sẵn sàng, tin cậy và hiệu quả. Nhiều tài liệu nêu hoạt động của đƣờng mòn Hồ Chí Minh nhƣ là một điển hình của công tác logistics trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nƣớc của Việt Nam, mà các tài liệu đó gọi là chiến tranh Việt Nam. - Logistics sự kiện ( Event Logistics): Một mạng gồm các hoạt động, phƣơng tiện và con ngƣời cần thiết để tổ chức, lập kế hoạch và triển khai các nguồn lực trên cho một sự kiện diễn ra và kết thúc một cách hiệu quả.
- Logistics dịch vụ ( Service Logistics): Cung cấp, lên kế hoạch và quản trị các phƣơng tiện/vốn liếng, nhân lực và vật tƣ để hỗ trợ hoặc đảm bảo cho một tác nghiệp dịch vụ hoặc kinh doanh (Langley,Coyle,Gibson,Novack & Bardi, 2018). Theo lĩnh vực - Logistic đầu vào (Inbound Logistics): Là hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,….