Chương I: Tổng quan về hoạt động logistics theo quy định của pháp luật Việt Nam. - Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện. -4- CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm của logistics, dịch vụ logistics 1.
Khái niệm Thật khó để đưa ra một khái niệm chính thức và thống nhất rằng như thế nào là logistics mặc dù hoạt động này đã được hình thành từ khá lâu, bởi logistics phát triển phổ biến và lan rộng ở nhiều ngành, lĩnh vực trong xã hội. Ở đó có những nhà nghiên cứu với những quan điểm, cách nhìn khác nhau. Xuất phát từ ý nghĩa quân sự ban đầu, Napoleon đã từng định nghĩa “Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội”. Trong lĩnh vực quân sự, logistics là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển, tập trung các lực lượng.
Các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, phân phối, sắp đặt khí tài, trang thiết bị.Từ điển Oxford cũng định nghĩa logistics là một nhánh của khoa học quân sự liên quan đến việc tiến hành, duy trì và vận chuyển phương tiện, thiết bị và nhân sự. Mặc dù được hình thành sau nhưng logistics hiện nay với ý nghĩa kinh tế được quan tâm nhiều hơn, do đó tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau hơn. Theo góc nhìn của nhà quản trị chuỗi cung ứng, Logistics được hiểu là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho của nguyên vật liệu, hàng hóa và xử lý thông tin liên quan xuyên suốt chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, quan điểm “5 đúng” thì cho rằng logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm.
Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (Council of Logistics Management) - 1991 đã có một khái niệm về logistics được nhiều người đồng ý nhất: Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng, nhằm mục đích -5- thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng. Là một ngành khoa học, logistics được xem như quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,… từ tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng.1 Logistics còn là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế2. Luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 (viết tắt là LTM 2005) có hiệu lực ngày 01/01/2006 thay thế cho Luật Thương mại 1997 cũng đã chính thức đưa khái nhiệm “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hay nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”. Theo những khái niệm nêu trên, ta dễ dàng nhận thấy logistics có thể tách thành 2 nhóm là nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Với nội hàm nghĩa hẹp (trong đó có khái niệm của LTM 2005 và các lĩnh vực cụ thể), Logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa, gắn liền với các dịch vụ cụ thể. Bản chất của hoạt động này là tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ, hay nói cách khác là quá trình nhận, lưu thông và phân phối hàng hóa. Logistics với ý nghĩa ở đây chủ yếu là vận tải, do đó dường như không có sự khác nhau nhiều so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO – Multimodal Transport Operator). Với nội hàm nghĩa rộng, Logistics xuất hiện từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới hậu sản xuất – tức là khi nguyên vật liệu đến nơi sản xuất tới khi người tiêu dùng cuối cùng sử dụng được hàng hóa.
Lúc này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình 1 GS. Đặng Đình Đào – TS. Nguyễn Minh Sơn (2012), “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Nxb Chính trị quốc gia, tr. TS Đoàn Thị Hồng Vân (2011), “Logistics – những vấn đề cơ bản”, Nxb Lao động – xã hội, tr.
-6- nhập nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, đưa vào các kênh lưu thông, phân phối trên thị trường để đến tay người tiêu dùng. Hiểu theo nghĩa này giúp ta phân biệt rõ giữa nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ (dịch vụ vận tải, giao nhận, khai hải quan, phân phối, hỗ trợ sản xuất,…) với nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp – người sẽ đảm nhận suốt quá trình hình thành đến phân phối sản phẩm. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics theo nghĩa rộng sẽ đảm nhiệm nhiều công việc hơn nhà cung cấp dịch vụ logistics theo nghĩa hẹp. Và cách hiểu này được thừa nhận rộng rãi hơn trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay – thời kỳ logistics toàn cầu.
Có thể nói đây là một thách thức lớn cho những nhà cung cấp dịch vụ logistics, ở đó đòi hỏi họ phải là những nhà cung cấp chuyên nghiệp, bản lĩnh và có trách nhiệm. Đặc điểm Logistics mặc dù được tiếp cận ở những khái niệm khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc điểm chung sau: Thứ nhất, logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu của sản xuất đến điểm cuối của tiêu dùng. Logistics theo cách hiểu hiện đại không còn gắn với những dịch vụ đơn lẻ nữa mà nó là một chuỗi các hoạt động liên tục. Nhà cung cấp dịch vụ logistics có sự đầu tư cho hoạt động kinh doanh của mình, chịu trách nhiệm từ khâu tiền sản xuất tới hậu sản xuất.
Thứ hai, logistics là sự phát triển cao của vận tải giao nhận và hoàn thiện vận tải đa phương thức. Ngày nay, người ta nhắc tới hoạt động logistics là nhắc đến một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, từ cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất đến lưu trữ hàng hóa trong kho bãi, từ kiểm tra đến phân phối hàng hóa trên thị trường,… Khái niệm này không còn đồng nhất với khái niệm vận tải truyền thống mà đã phát triển cao hơn để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế hội nhập. Trước đây, hàng hóa muốn đến tay người tiêu dùng ở những vùng miền khác nhau, đất nước khác nhau phải đi qua những hình thức vận tải khác nhau, người gửi phải ký gửi nhiều hợp đồng. Khi đó rủi ro, mất mát đối với hàng hóa là rất cao mà trách nhiệm của người vận tải chỉ giới hạn trong chặng đường vận chuyển hoặc trong hợp đồng.
Vận tải đa phương thức ra đời từ cuộc cách mạng container hóa những năm -7- 60-70 thế kỷ XX đã khắc phục những nhược điểm này, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với nhà kinh doanh dịch vụ vận tải đa phương thức. Cho đến nay, logistics đã bao gồm hình thức kinh doanh này và hoàn thiện nó thành chiến lược kinh doanh chủ yếu của mình bên cạnh những lĩnh vực khác. Thứ ba, logistics bao gồm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức.3 Cấp độ hoạch định thể hiện ở việc đưa ra những câu hỏi: lấy nguyên vật liệu nào, ở đâu, thời điểm nào, sản xuất ra sao, lựa chọn nơi tiêu thụ nào,… Cấp độ tổ chức liên quan đến vận chuyển và lưu trữ, tức cách thức và phương tiện để thực hiện những vấn đề được đặt ra ở bước hoạch định. Thứ tư, logistics kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hóa, dịch vụ từ khi bắt đầu đến khi kết thúc.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, logistics chủ động và linh hoạt hơn trong việc điều tiết khối lượng hàng hóa, dịch vụ trong thị trường, góp phần ngăn chặn tình trạng thiếu hụt sản phẩm ở nơi này nhưng tồn đọng ở nơi khác, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng. Thứ năm, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics được xem là một hoạt động thương mại. Vì xét về bản chất, nhà cung cấp dịch vụ logistics thực hiện hoạt động này là nhằm mục đích sinh lợi (hưởng thù lao và các chi phí hợp lý khác). Trong quá trình hoạt động, thương nhân kinh doanh dịch vụ nhân danh chính mình thực hiện và chịu trách nhiệm trên cơ sở hợp đồng dịch vụ đã được ký kết với khách hàng.
Vai trò của logistics trong hoạt động thƣơng mại Bản chất của logistics là nhằm tối ưu hóa quá trình lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ vị trí đầu của chuỗi cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng một cách hiệu quả nhất. Logistics có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các hoạt động trong xã hội cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Một vấn đề được đặt ra là nếu logistics không được hình thành và phát triển thì liệu công tác hậu cần trong các cuộc chiến sẽ như thế nào, nền kinh tế của các nước hay thậm chí giữa các nước với nhau sẽ ra sao, hàng hóa từ nơi này đến nơi khác có đảm bảo đúng thời gian, đúng thời điểm và đúng nhu cầu cho tiêu dùng không? Như vậy, có thể kết luận rằng vai 3 Xem GS. Đặng Đình Đào – TS.
Nguyễn Minh Sơn (2012), “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Nxb Chính trị quốc gia, tr. -8- trò của logistics hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực và trong mỗi lĩnh vực đều có những giá trị riêng. Ở phạm vi khóa luận này, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu vai trò của logistics trong hoạt động thương mại, điển hình là trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, vận tải, doanh nghiệp, sản xuất – tiêu dùng.