Luận văn Hoàng Thị Tuyết Nhung: Xây dựng và phát triển năng lực Vật lí THPT

Luận văn nghiên cứu phương pháp xây dựng và phát triển năng lực Vật lí cho học sinh THPT theo chương trình mới, cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn.

Chuyên ngành

Vật lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát triển năng lực Vật lí THPT theo CTGDPT 2018

Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, chuyển từ định hướng nội dung sang dạy học định hướng phát triển năng lực. Mục tiêu cốt lõi là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, việc phát triển năng lực Vật lí THPT không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức hàn lâm mà còn tập trung vào việc hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Theo Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội, mục tiêu đổi mới là “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông;... góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực”. Môn Vật lí, với vai trò là một môn khoa học tự nhiên, giữ vị trí then chốt trong việc giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa học, rèn luyện tư duy logic và khả năng sáng tạo. Chương trình mới xác định rõ các năng lực chung và năng lực đặc thù môn vật lí mà học sinh cần đạt được. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi sâu sắc trong cả phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Việc hiểu rõ cấu trúc và con đường phát triển năng lực Vật lí là nền tảng để các nhà giáo dục, giáo viên và người biên soạn sách giáo khoa xây dựng các hoạt động can thiệp sư phạm hiệu quả, đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 được thực thi thành công.

1.1. Khái niệm và cấu trúc của năng lực theo chương trình mới

Năng lực được định nghĩa là khả năng kết hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ và các thuộc tính cá nhân khác để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ trong bối cảnh thực tiễn. Theo Weinert, “NL của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề”. Như vậy, năng lực không chỉ là kiến thức suông mà phải là khả năng hành động, vận dụng tri thức. Cấu trúc của năng lực bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành, thái độ, giá trị, đạo đức, xúc cảm và động cơ. Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, cấu trúc năng lực được chia thành hai nhóm chính: năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) và năng lực chuyên môn (đặc thù cho từng môn học).

1.2. Các năng lực đặc thù môn Vật lí cần hình thành ở học sinh

Năng lực đặc thù môn vật lí là mục tiêu cốt lõi mà chương trình mới hướng tới. Cấu trúc năng lực này bao gồm ba thành phần chính: Năng lực nhận thức vật lí; Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí; và Năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học. Cụ thể, học sinh cần có khả năng nhận thức được các kiến thức cốt lõi về mô hình hệ vật lí, chất, năng lượng, sóng, lực và trường. Đồng thời, các em phải thực hiện được các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, đề xuất giả thuyết, lập kế hoạch và tiến hành thí nghiệm. Cuối cùng, quan trọng nhất là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức để giải thích các hiện tượng thực tiễn, giải quyết các vấn đề liên quan và ứng xử phù hợp với thiên nhiên.

II. Thách thức trong việc dạy học phát triển năng lực Vật lí

Quá trình chuyển đổi từ mô hình dạy học truyền thống sang dạy học định hướng phát triển năng lực môn Vật lí đặt ra không ít thách thức cho cả giáo viên và học sinh. Thách thức lớn nhất nằm ở việc thay đổi tư duy và thói quen sư phạm đã tồn tại lâu đời. Giáo viên vốn quen với việc truyền thụ kiến thức một chiều nay phải chuyển sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường để học sinh tự khám phá và kiến tạo tri thức. Điều này đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian soạn giáo án phát triển năng lực vật lí, thiết kế các hoạt động học tập đa dạng và sáng tạo. Một khó khăn khác là việc xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá theo năng lực. Thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức, hệ thống này phải đo lường được khả năng vận dụng, giải quyết vấn đề và các kỹ năng tư duy bậc cao của học sinh. Việc thiết kế các câu hỏi, bài tập tình huống và các dự án học tập đáp ứng yêu cầu này là một công việc phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu. Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm tại nhiều trường học còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động thực hành, khám phá - một yếu tố không thể thiếu trong việc hình thành năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên. Cuối cùng, áp lực về chương trình và thời gian cũng là một rào cản, khiến giáo viên khó có thể triển khai trọn vẹn các phương pháp dạy học tích cực.

2.1. Rào cản khi chuyển từ dạy học nội dung sang định hướng năng lực

Sự chuyển dịch từ chương trình tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực đòi hỏi sự thay đổi toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến cách thức đánh giá. Rào cản chính là tâm lý ngại thay đổi của một bộ phận giáo viên và cả học sinh. Học sinh quen với việc học thụ động, ghi chép và tái hiện kiến thức có thể cảm thấy lúng túng khi tham gia các hoạt động học tập chủ động. Giáo viên phải đối mặt với việc tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng chuyên môn giáo viên vật lí để cập nhật các phương pháp mới như dạy học theo chủ đề STEM hay dạy học dự án môn vật lí. Việc thiếu các tài liệu hướng dẫn chi tiết, các sáng kiến kinh nghiệm vật lí thpt được chia sẻ rộng rãi cũng là một khó khăn không nhỏ trong giai đoạn đầu triển khai.

2.2. Khó khăn trong việc xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá

Kiểm tra đánh giá theo năng lực không chỉ là thay đổi hình thức câu hỏi mà là sự thay đổi trong triết lý đánh giá. Mục đích không phải để xếp loại học sinh mà là để cung cấp thông tin phản hồi, giúp các em nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và tự điều chỉnh quá trình học tập. Việc xây dựng một ma trận đề kiểm tra vật lí theo định hướng này rất phức tạp. Ma trận phải bao quát được cả ba thành phần năng lực đặc thù môn vật lí và các mức độ nhận thức khác nhau (biết, hiểu, vận dụng, vận dụng cao). Các câu hỏi phải gắn với bối cảnh thực tiễn, đòi hỏi học sinh huy động kiến thức liên môn để giải quyết, thay vì các bài toán công thức thuần túy. Đây là một thách thức lớn đòi hỏi sự phối hợp và nghiên cứu nghiêm túc.

III. Phương pháp đổi mới dạy học Vật lí phát triển năng lực hiệu quả

Để vượt qua các thách thức, việc đổi mới phương pháp dạy học vật lí là giải pháp then chốt. Thay vì thuyết trình, giáo viên cần ưu tiên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Các phương pháp như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án, dạy học theo góc, hay kĩ thuật khăn trải bàn, mảnh ghép... đều là những công cụ hữu hiệu. Đặc biệt, xu hướng tích hợp STEM (Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học) vào giảng dạy Vật lí đang mở ra nhiều cơ hội để phát triển năng lực Vật lí THPT. Thông qua việc thực hiện các dự án STEM, học sinh được đặt vào vai trò của những nhà khoa học, kĩ sư thực thụ. Các em phải tự tìm tòi kiến thức, lên kế hoạch, thiết kế, chế tạo sản phẩm và giải quyết các vấn đề nảy sinh. Quá trình này không chỉ giúp củng cố kiến thức Vật lí mà còn rèn luyện toàn diện các năng lực cốt lõi như năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp. Việc thiết kế một giáo án phát triển năng lực vật lí cần bắt đầu từ yêu cầu cần đạt môn vật lí trong chương trình, sau đó lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức hoạt động phù hợp để dẫn dắt học sinh từng bước đạt được mục tiêu năng lực đó.

3.1. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong môn Vật lí

Phương pháp dạy học tích cực là tên gọi chung cho các phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học. Trong môn Vật lí, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động thí nghiệm theo phương pháp bàn tay nặn bột, cho học sinh tự đề xuất giả thuyết và thiết kế phương án kiểm chứng. Dạy học dự án môn vật lí cũng là một hình thức hiệu quả, ví dụ dự án “Thiết kế hệ thống tưới cây tự động” có thể giúp học sinh vận dụng kiến thức về áp suất chất lỏng, điện học để tạo ra một sản phẩm hữu ích, qua đó phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng.

3.2. Hướng dẫn thiết kế giáo án theo định hướng phát triển năng lực

Một giáo án phát triển năng lực vật lí hiệu quả có cấu trúc khác biệt so với giáo án truyền thống. Cấu trúc này thường bao gồm 5 hoạt động chính theo Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH: (1) Xác định vấn đề/Nhiệm vụ học tập; (2) Hình thành kiến thức mới; (3) Luyện tập; (4) Vận dụng; (5) Tìm tòi, mở rộng. Mỗi hoạt động cần xác định rõ mục tiêu năng lực cần hướng tới, mô tả chi tiết cách thức tổ chức và sản phẩm học sinh cần hoàn thành. Việc chú trọng vào chuỗi hoạt động học sẽ giúp quá trình dạy học không bị sa vào việc truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà thực sự là quá trình tổ chức cho học sinh học tập và phát triển năng lực.

IV. Hướng dẫn xây dựng và đánh giá theo năng lực Vật lí THPT

Đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học định hướng phát triển năng lực. Mục tiêu của đánh giá là xác định mức độ đạt được yêu cầu cần đạt môn vật lí của học sinh, từ đó điều chỉnh hoạt động dạy và học. Để đánh giá chính xác, cần xây dựng được các tiêu chí và chỉ báo hành vi cụ thể cho từng thành phần năng lực. Dựa trên nghiên cứu, các biểu hiện của năng lực nhận thức vật lí có thể được chia thành các mức độ: mức 1 (biết), mức 2 (hiểu), và mức 3 (vận dụng). Tương tự, năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiênnăng lực vận dụng kiến thức kĩ năng cũng được cụ thể hóa bằng các hành vi có thể quan sát và đo lường được. Việc xây dựng một ma trận đề kiểm tra vật lí là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Ma trận này cần xác định rõ tỉ lệ câu hỏi/bài tập cho từng chủ đề, từng mức độ nhận thức và từng thành phần năng lực. Ngoài các bài kiểm tra viết truyền thống, cần đa dạng hóa các hình thức đánh giá như đánh giá qua dự án học tập, qua hồ sơ học tập (portfolio), đánh giá qua quan sát, hay tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng. Sự kết hợp linh hoạt các hình thức này sẽ cung cấp một bức tranh toàn diện và khách quan về sự tiến bộ trong phát triển năng lực Vật lí THPT của mỗi học sinh.

4.1. Xây dựng ma trận đề kiểm tra Vật lí theo yêu cầu cần đạt

Việc xây dựng ma trận đề kiểm tra Vật lí cần bám sát vào các yêu cầu cần đạt môn vật lí được quy định trong chương trình. Ma trận thường có hai chiều: một chiều là các chủ đề/nội dung kiến thức, chiều còn lại là các mức độ năng lực (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao). Mỗi ô trong ma trận sẽ quy định số lượng câu hỏi, hình thức câu hỏi (trắc nghiệm, tự luận) và số điểm tương ứng. Việc này đảm bảo đề kiểm tra có tính bao quát, cân đối, tránh tình trạng học tủ, học lệch và đánh giá chính xác năng lực tổng hợp của học sinh.

4.2. Thiết lập các cấp độ và đường phát triển năng lực của học sinh

Đường phát triển năng lực mô tả sự tiến bộ của học sinh qua các cấp học, từ mức độ cơ bản đến thành thạo. Việc xây dựng đường phát triển này giúp giáo viên nhận biết được học sinh đang ở đâu trên con đường hình thành năng lực và cần những hỗ trợ gì để tiến bộ. Ví dụ, với năng lực nhận thức vật lí, ở mức độ đầu, học sinh chỉ cần “nêu được, kể tên được” các sự vật, hiện tượng. Ở cấp độ cao hơn, các em phải “giải thích, so sánh, phân tích được”. Cuối cùng là khả năng “đánh giá, đưa ra nhận định phê phán”. Việc mô tả rõ các cấp độ này giúp hoạt động đánh giá trở nên cụ thể và có ý nghĩa hơn.

V. Case study Áp dụng dạy học chủ đề STEM Năng lượng và cuộc sống

Một ví dụ thực tiễn điển hình cho việc phát triển năng lực Vật lí THPT là áp dụng mô hình dạy học theo chủ đề STEM với chủ đề “Năng lượng và cuộc sống”. Đây là một chủ đề lớn, tích hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực như cơ học, nhiệt học, điện học và có tính ứng dụng cao trong thực tế. Thay vì dạy riêng lẻ từng bài về công, công suất, động năng, thế năng, giáo viên có thể xây dựng một dự án học tập lớn, ví dụ: “Thiết kế và chế tạo mô hình nhà máy điện gió mini”. Để thực hiện dự án này, học sinh phải huy động kiến thức về sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, nguyên tắc hoạt động của máy phát điện, và các yếu tố khí động học. Quá trình này đòi hỏi học sinh phải làm việc nhóm, tự nghiên cứu tài liệu, lên bản vẽ thiết kế, lựa chọn vật liệu và tiến hành lắp ráp, thử nghiệm. Thông qua dự án, học sinh không chỉ hiểu sâu sắc các khái niệm Vật lí mà còn phát triển mạnh mẽ năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các em học được cách đối mặt và xử lý các sự cố kỹ thuật, tối ưu hóa thiết kế để tăng hiệu suất. Hoạt động này là minh chứng rõ nét cho việc chuyển từ học kiến thức sang hình thành năng lực, giúp các em thấy được ý nghĩa thực tiễn của môn Vật lí.

5.1. Tổ chức dạy học dự án Chế tạo mô hình tuabin gió mini

Dạy học dự án môn vật lí là một hình thức tổ chức dạy học phức hợp, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập có tính tổng hợp và thực tiễn. Với dự án “Chế tạo mô hình tuabin gió mini”, giáo viên sẽ đóng vai trò là người cố vấn. Học sinh được chia thành các nhóm, tự phân công nhiệm vụ: nhóm nghiên cứu lý thuyết, nhóm thiết kế, nhóm thi công. Quá trình này giúp hình thành năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng thực hành và làm việc nhóm. Sản phẩm cuối cùng không chỉ là mô hình vật chất mà còn là bài báo cáo khoa học, video thuyết trình, thể hiện toàn bộ quá trình nghiên cứu và kết quả đạt được.

5.2. Đánh giá kết quả và năng lực hình thành qua dự án STEM

Việc đánh giá trong một dự án STEM không chỉ dựa trên sản phẩm cuối cùng. Quá trình đánh giá diễn ra liên tục, bao gồm: đánh giá bản thiết kế, đánh giá nhật ký làm việc của nhóm, đánh giá khả năng hợp tác, và đánh giá bài thuyết trình bảo vệ dự án. Giáo viên có thể xây dựng các bộ tiêu chí (rubric) rõ ràng để đánh giá từng khía cạnh. Phương pháp này giúp đo lường một cách toàn diện các năng lực đặc thù môn vật lí và các năng lực chung mà học sinh đã hình thành, từ năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên cho đến năng lực giao tiếp và hợp tác, điều mà các bài kiểm tra trên giấy khó có thể làm được.

VI. Tương lai và định hướng bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Vật lí

Để việc phát triển năng lực Vật lí THPT theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả bền vững, vai trò của người giáo viên là yếu tố quyết định. Tương lai của việc dạy học Vật lí sẽ không còn là những bài giảng khô cứng mà là chuỗi các hoạt động trải nghiệm, khám phá sáng tạo, giúp học sinh làm chủ tri thức và sẵn sàng đối mặt với những thách thức của thế kỷ 21. Để làm được điều đó, công tác bồi dưỡng chuyên môn giáo viên vật lí cần được chú trọng và đổi mới một cách căn bản. Các chương trình bồi dưỡng không nên chỉ tập trung vào kiến thức chuyên môn mà cần trang bị cho giáo viên những kĩ năng thiết yếu của thế kỷ 21: kĩ năng thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập theo dự án, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin, và đặc biệt là kĩ năng xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá theo năng lực. Việc tạo ra một cộng đồng học tập chuyên môn, nơi các giáo viên có thể chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm vật lí thpt, cùng nhau tháo gỡ khó khăn và phát triển các giáo án phát triển năng lực vật lí mẫu là một hướng đi hiệu quả. Đầu tư vào giáo viên chính là đầu tư cho tương lai của giáo dục, đảm bảo chương trình mới sẽ thực sự tạo ra một thế hệ học sinh năng động, sáng tạo và có đủ năng lực để xây dựng đất nước.

6.1. Xu hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trở thành một trong những năng lực quan trọng nhất. Dạy học Vật lí có tiềm năng rất lớn để rèn luyện năng lực này. Thay vì đưa ra các bài toán có sẵn lời giải, giáo viên có thể đặt ra các vấn đề mở, các tình huống thực tiễn chưa có câu trả lời rõ ràng. Học sinh sẽ phải tự mình phân tích vấn đề, tìm kiếm thông tin, đề xuất các giải pháp khả thi và lựa chọn phương án tối ưu. Đây là xu hướng tất yếu của giáo dục hiện đại, giúp học sinh không bị bỡ ngỡ khi bước vào cuộc sống thực.

6.2. Nhu cầu cấp thiết về bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

Để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới, nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn giáo viên vật lí là vô cùng cấp thiết. Các khóa bồi dưỡng cần được thiết kế theo dạng thực hành, trải nghiệm, giúp giáo viên tự mình trải qua các hoạt động học tập mà họ sẽ tổ chức cho học sinh. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các vấn đề cốt lõi như: (1) Kỹ thuật xây dựng ma trận đề kiểm tra vật lí và câu hỏi đánh giá năng lực; (2) Phương pháp tổ chức dạy học theo chủ đề STEM; (3) Ứng dụng các phần mềm mô phỏng, phòng thí nghiệm ảo vào giảng dạy. Sự đầu tư bài bản và liên tục vào việc nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẽ là đòn bẩy cho sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CẤU TRÚC VÀ ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THPT 2. Cấu trúc năng lực và xác định năng lực thành phần của chương trình Vật Lí THPT. Từ cách tiếp cận khác nhau để đưa năng lực vào nội dung môn học như: + Từ cấu trúc năng lực lựa chọn những nội dung môn học phù hợp. + Từ những nội dung môn học đã có sẵn xác định xem có thể phát triển được những thành tố nào của năng lực + Kết hợp cả hai cách trên.

Trong luận văn này chúng tôi đề cập đến cách tiếp cận từ chương trình của Bộ đã công bố xác định xem có thể phát triển được những thành tố nào của năng lực. Từ những nội dung và yêu cầu cần đạt của từng lớp có thể phân chia một số từ khóa thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực của người học thành 3 mức độ như bảng dưới đây: Bảng 2.1: TỪ KHOÁ MÔ TẢ MỨC ĐỘ MÔN VẬT LÍ (10-12) Biết (1) Hiểu (2) Vận dụng (3) Định nghĩa được… Mô tả được: …. Liệt kê được …. Vẽ phác được …… Xác định được ….

Đánh giá được…. Phát biểu được …. Ước lượng được …. Tổng hợp được….

Trình bày được…. Giải thích được …. Dẫn ra được…. Phân tích được ….

So sánh được …. Minh họa được…. Xây dựng được…. Thực hiện được ….

Tổng hợp được…. Thực hiện thí Lựa chọn được…. Thiết kế được …. Dẫn ra được… Thảo luận được….

Từ bảng từ khóa mô tả mức độ môn Vật Lí ta thấy từ nội dung đưa ra được 3 mức độ chính như sau: Mức độ 1 là mức độ biết với những từ khóa như: định nghĩa được, nêu được, liệt kê được, xác định được, trình bày được, phát biểu được… Ví dụ trong phần khối lượng riêng, áp suất chất lỏng có yêu cầu: “ Nêu được khối lượng riêng của một chất là khối lượng của một đơn vị thể tích của chất đó”. Trong yêu cầu này từ khóa là từ “ Nêu được…” thuộc vào mức độ 1 là mức độ biết. Mức độ 2 là mức độ hiểu bao gồm những từ khóa: mô tả được, vẽ được, vẽ phác được, giải thích được, so sánh được, minh họa được…. Ví dụ trong chương động học lớp 10 có yêu cầu: “ so sánh được quãng đường đi được và độ dịch chuyển”.

Trong yêu cầu này từ khóa là “ so sánh đươc…. Dựa vào bảng từ khóa mức độ ta xác định được yêu cầu này ở mức độ 2 là mức độ hiểu. Mức độ 3 là mức độ vận dụng với các từ khóa như: đo được, xác định được, đánh giá được, tổng hợp được… Ví dụ trong phần động học lớp 10 có nội dung mô tả chuyển động với yêu cầu: “ xác định được độ dịch chuyển tổng hợp, vận tốc tổng hợp”. Trong yêu cầu này thì từ khoá là từ “ xác định được…” nên mức độ năng lực thành phần là mức độ vận dụng còn được gọi là mức độ 3.

Thông qua chương trình môn Vật lí, học sinh hình thành và phát triển được thế giới quan khoa học; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên; yêu thiên nhiên, tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Xây dựng cấu trúc năng lực Vật Lí bao gồm: Năng lực Vật Lí Nhận thức khoa học tự Tìm hiểu khoa học tự Vận dụng kiến nhiên dưới góc độ vật nhiên dưới góc độ vật thức vật lí vào lí. Đặc biệt, học sinh hình thành và phát triển được năng lực vật lí, bao gồm các thành phần sau.  Nhận thức khoa học tự nhiên dưới góc độ vật lí – Nhận thức được kiến thức phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường.

– Nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí.  Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí – Thực hiện được hoạt động tìm hiểu một số sự vật, hiện tượng đơn giản, gần gũi trong thế giới tự nhiên và đời sống theo tiến trình. – Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận.  Vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn – Vận dụng được kiến thức vật lí để mô hình hóa các hệ vật lí đơn giản và sử dụng được toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết vấn đề cụ thể.

– Mô tả, dự đoán, giải thích hiện tượng, giải quyết vấn đề một cách khoa học; ứng xử thích hợp với công nghệ và thiên nhiên trong một số tình huống liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng. Những từ khóa biểu hiện cụ thể của năng lực vật lí được trình bày ở bảng sau: Bảng 2.2: TỪ KHOÁ BIỂU HIỆN NĂNG LỰC THÀNH PHẦN CỦA MÔN VẬT LÍ ( 10 -12) Năng lực Biểu hiện thành phần 1. Gọi tên, nhận ra, nhận biết, phát biểu, kể tên, nêu được các sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí. Trình bày được các sự kiện, đặc điểm, vai trò của các sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu Nhận thức đạt như nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ.

khoa học tự 3. Phân loại các sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí theo nhiên dưới các tiêu chí khác nhau. Phân tích các khía cạnh của một sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí theo một logic nhất định. So sánh, lựa chọn sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí dựa theo các tiêu chí.

Lập dàn ý, tìm từ khoá; trình bày các văn bản khoa học về vật lí; kết nối thông tin theo logic có ý nghĩa. Giải thích với lập luận về mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng (nhân quả, cấu tạo – chức năng,. Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa một vấn đề, lời giải thích. Thảo luận đưa ra những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề.

Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. Chứng minh được các vấn đề trong thực tiễn bằng các dẫn chứng khoa học ( tiến hành được thí nghiệm)… 2. Đề xuất vấn đề, đặt câu hỏi cho vấn đề: nhận ra và đặt câu hỏi liên quan đến vấn đề, phân tích bối cảnh để đề xuất được vấn đề. Đưa ra được phán đoán và xây dựng được giả thuyết: phân tích vấn đề để nêu được phán đoán, xây dựng và phát biểu giả thuyết cần tìm hiểu.

Lập kế hoạch thực hiện: xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu, lựa chọn được phương án thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư Tìm hiểu thế liệu,…), lập kế hoạch triển khai tìm hiểu. giới tự nhiên 5. Thực hiện kế hoạch: thu thập, lưu giữ dữ liệu từ kết dưới góc độ quả tổng quan, thực nghiệm… Đánh giá kết quả dựa trên vật lí phân tích, xử lí các dữ liệu. So sánh kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra kết luận và điều chỉnh khi cần thiết.

Viết, trình bày báo cáo khoa học và thảo luận: sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt, viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu, hợp tác được với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ kết quả một cách thuyết phục. Ra quyết định và đề xuất ý kiến: đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu. Vận dụng 1.Vận dụng kiến thức và kĩ năng về vật lí vào thực tiễn kiến thức vật để: giải thích, chứng minh, đánh giá, phản biện một lí vào thực vấn đề thực tiễn, đánh giá. Đề xuất được một số phương pháp, biện pháp mới, thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch,.

Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên; thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. Từ bảng trên ta thấy từ khóa mô tả mức độ và những biểu hiện của năng lực Vật lí được chia làm 3 năng lực chính: năng lực nhận thức, năng lực tìm hiểu và năng lực vận dụng. Trong đó năng lực nhận thức được kí hiệu là “N”, năng lực tìm hiểu được kí hiệu là “T”, năng lực vận dụng được kí hiệu là “V”. Dựa vào bảng trên ta có thể tìm hiểu được năng lực thành phần của các nội dung chương trình vật lí lớp 10, lớp 11 và lớp 12.

Ví dụ: Ở phần động học của vật lí lớp 10 có yêu cầu: “ Lập luận rút ra được công thức tính tốc độ trung bình, định nghĩa được tốc độ theo một phương”. Với yêu cầu cần đạt này đối chiếu với bảng năng lực sẽ là năng lực nhận thức khoa học tự nhiên dưới góc độ vật lí. Còn với từ khóa “ lập luận rút ra được” so sánh với bảng từ khóa chỉ mức độ năng lực sẽ ở mức độ 3 suy ra năng lực thành phần là N3. Tiếp theo với từ khóa “ định nghĩa được…” cũng là ở năng lực nhận thức nhưng ở mức độ 1 nên năng lực thành phần là N1.

Vậy với yêu cầu cần đạt như trên thì năng lực thành phần bao gồm N3 và N1. Trong phần “công và năng lượng” vật lí lớp 10 có 3 yêu cầu cần đạt và các thành tố năng lực, sơ đồ dưới đây sẽ thể hiện Chế tạo mô hình Chủ đề: đơn giản minh họa được định luật bảo toàn năng lượng liên quan đến một số dạng năng lượng khác. N1 Nêu được biểu thức tính công bằng tích của lực tác dụng và độ dịch chuyển theo Công và phương của lực, nêu năng lượng được đơn vị đo công là đơn vị đo năng lương với J = 1 Nm. Tính được công trong một số trường hợp đơn N3 giản.

Trình bày được ví dụ chứng tỏ có thể truyền năng lượng từ vật này sang vật khác bằng cách thực hiện công. Từ sơ đồ trên ta thấy từ nội dung và yêu cầu cần đạt ta sẽ xác định được thành tố các năng lực thành phần. Làm tương tự như các ví dụ trên với nội dung vật lí lớp 10, 11 và lớp 12 ta có bảng sau: Bảng 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ