CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PADLET ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về Padlet Padlet là một ứng dụng internet miễn phí, được cấu trúc thành 1 trang như một “bức tường ảo”, cho phép người dùng trình bày bất cứ một chủ đề nào đó một cách dễ dàng.
Người dùng có thể trình bày nội dung (hình ảnh, video…) theo ý tưởng của mình ở bất cứ vị trí nào trên trang Padlet. Padlet được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong giáo dục. Giáo viên có thể sử dụng Padlet như một công cụ dạy học trực tuyến trong đó có khả năng tích hợp nhiều ứng dụng khác, công cụ khác nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ và dần phát triển năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực tự học. Padlet được coi là một trong những ứng dụng được sử dụng phổ biến trong các trường học trên thế giới, nhất là ở các nước tiên tiến.
Với ưu thế của mình, Padlet tạo sự tương tác giữa người dạy và người học, tương tác giữa người học với người học, cùng nhau chia sẻ kiến thức kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu hoặc học tập… 1. Khái niệm về “năng lực ” Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật ngữ “competence”, “ability” hay “capability”. Có rất nhiều định nghĩa về “năng lực ” và khái niệm này thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Trong phạm vi nghiên cứu này, xin được nêu ra một số khái niệm như sau. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan điểm của những nhà tâm lý học, “năng lực” là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Theo từ điển của Đại học Harvard thì “năng lực”, theo thuật ngữ chung nhất, là “những thứ” mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, hoặc nhiệm vụ.
Theo cách hiểu này, “năng lực” không thể đánh giá bằng những gì ở bên trong con người như kiến thức, kĩ năng, thái độ mà chỉ có thể đánh giá được thông qua hành động. Năng lực được xác định thông qua các nghiên cứu về việc làm và vai trò công việc. Trong nhiều nghiên cứu gần đây về đào tạo theo năng lực (Competency Based Training - BT) Nguyễn Đức Trí và một số tác giả dịch 2 thuật ngữ competence và competency đều là NLTH theo nghĩa lắp ghép với từ performance - sự thực hiện trong cụm từ “perform a task” để nhấn mạnh đến ý nghĩa “thực hiện/thực hành”. Từ đó, định nghĩa NLTH đều gắn với “khả năng” như NLTH là khả năng thực hiện được các nhiệm vụ, công việc trong nghề theo các tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó [20; tr.
Theo tác giả Weinert (2001), “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. Tác giả người Mĩ McLagan hiểu năng lực “là một tập hợp những kiến thức, thái độ, kĩ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng”. Tác giả Meier và Nguyễn Văn Cường thì cho rằng “năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[24; tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Tuy các tác giả đưa ra những nhận định khác nhau về năng lực nhưng có một điểm chung đó là: nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, khả năng hành động, biết làm chứ không chỉ là biết và hiểu. Từ nhiều khái niệm trên, có thể hiểu “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”. Khái niệm về “năng lực tự học” Cũng giống như năng lực, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm năng lực tự học (NLTH) của nhiều tác giả, ở nhiều khía cạnh nghiên cứu và trong từng thời kì khác nhau.
Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập rất sớm thường được sử dụng với ý nghĩa là người học tự giác, chủ động thực hiện các hoạt động học tập của mình. Khái niệm NLTH là khả năng người học thực hiện các hoạt động tự học. Do vậy khi nói đến tự học và năng lực tự học một số tác giả coi đó là hai khái niệm có chứa cùng một nội dung. Trong nghiên cứu của mình khi xác định tổng quan vấn đề NLTH chúng tôi cũng xuất phát từ khái niệm tự học và đôi lúc cũng được hiểu như là NLTH.
Ở Việt Nam hoạt động tự học được chú ý từ thời phong kiến khi mà giáo dục chưa phát triển. NLTH được ghi nhận ở từng cá nhân kiệt xuất, tự học thành tài. Đến thời kì thực dân Pháp đô hộ giáo dục nước ta vẫn còn rất hạn chế, phương pháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều, người học chỉ cần học thuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung mà không cần quan tâm đến việc vận dụng kiến thức đó trong cuộc sống như thế nào. Vấn đề tự học, NLTH vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu.
Khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát động nghiên cứu và nêu cao tấm gương về tinh thần tự học cũng như phương pháp dạy học. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác viết 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “… phải lấy tự học làm cốt”. Thời kì ấy tự học không phải chỉ là định hướng cho con người vượt qua khó khăn của đời sống hiện tại mà còn là chú trọng nâng cao trình độ của bản thân để đáp ứng với thế giới ngày càng đổi mới và nhân dân Việt Nam ngày càng tiến bộ. Tự học được xác định là một nhiệm vụ chính trị.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX những nghiên cứu về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn. Một số tác giả có công trình tiêu biểu là tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành… Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” [Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học; Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt). Năng lực tự học là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” [Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt] Như vậy, các tác giả tuy trình bày quan điểm theo cách khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng NLTH không đơn thuần là việc người học thu nhận được gì từ kiến thứ, kĩ năng, thái độ mà nười học còn có khả năng vận dụng những điều đã được học đó vào trong thực tế, có khả năng xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống.
NLTH là những khả năng và kĩ xảo của người học được vận dụng từ bài học sang thực tế. Vì vậy NLTH không phải chỉ hình thành từ những bài vở, chương trình môn học hay những lí thuyết đơn thuần mà nó là sự tổng hợp của nhiều yếu tố từ gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội. Để đánh giá NLTH của người học thì người dạy phải tạo ra cơ hội, trao cơ hội cho người học để người học được trải nghiệm, được thử thách. Khi đó, người học sẽ vận dụn những gì đã có của mình để giải quyết các vấn đề phát sinh đó.
Người nghiên cứu sẽ đánh giá được khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị tình cảm của người học. Định nghĩa về tự học cũng được thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào bối cảnh nghiên cứu và trọng tâm nghiên cứu của từng tác giả. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà tự học ở đây còn là hoạt động học diễn ra trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của người thầy, người học phải động não, tìm tòi, phát hiện, phân tích, khái quát để chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng chính tư duy của mình. Có thể nói, khả năng tự học luôn tiềm ẩn trong mỗi con người và điều quan trọng trong dạy học là giáo viên phải biết khơi dậy khả năng này của học sinh.
Như vậy để hoạt động học có hiệu quả, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động của học sinh chuyển sang tự học. Khái niệm về “phát triển năng lực tự học ” trong dạy học lịch sử. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển” là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất.