Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng giáo dục phổ thông cho thấy có tới 56,5% học sinh gặp khó khăn trong học tập do chưa tìm được phương pháp tự học phù hợp, dù có 87% học sinh ý thức sâu sắc rằng việc tự tích lũy kiến thức là hành trang sống còn để bước vào xã hội. Trong bối cảnh triết lý giáo dục thế kỷ XXI chuyển dịch mạnh mẽ sang nguyên lý học suốt đời theo khuyến nghị của UNESCO và tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, việc khắc phục triệt để phương pháp truyền thụ áp đặt một chiều là yêu cầu cấp thiết. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học của tác giả Vũ Thị Thảo, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Thị Oanh tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, tập trung giải quyết bài toán phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng hệ thống tài liệu tự học có hướng dẫn và thiết kế các bài học theo mô hình trường học mới VNEN áp dụng cho chương Nitơ - Photpho thuộc chương trình Hóa học 11 cơ bản. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm sư phạm trực tiếp trên các lớp khối 11 tại hai trường: THPT Kinh Môn và THPT Phúc Thành thuộc tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp chuyển hóa quy định tại Điều 28 Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 và Quyết định 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành công cụ sư phạm khả thi, giúp gia tăng tỷ lệ học sinh khá giỏi lên trên 15% và cải thiện rõ rệt các chỉ báo hành vi tự học của người học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên nền tảng lý luận dạy học hiện đại, kế thừa quan điểm của GS. Nguyễn Cảnh Toàn và GS. TSKH Thái Duy Tuyên về bản chất của tự học: quá trình người học độc lập, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức và biến tri thức nhân loại thành tài sản trí tuệ cá nhân. Luận văn vận dụng lý thuyết chu trình tự học khép kín gồm 4 giai đoạn nối tiếp: Tự nghiên cứu, Tự thể hiện, Tự kiểm tra và Tự điều chỉnh.

Cấu trúc năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông trong đề tài được chuẩn hóa thành 3 năng lực thành tố với 7 tiêu chí đo lường cụ thể:

  • Thành tố 1: Năng lực xác định mục tiêu và nhiệm vụ học tập (gồm 3 tiêu chí: xác định mục tiêu học tập, xác định nhiệm vụ học tập, xác định yêu cầu cần đạt).
  • Thành tố 2: Năng lực lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập (gồm 2 tiêu chí: lập và điều chỉnh kế hoạch học tập linh hoạt, hình thành phương pháp tự học phù hợp).
  • Thành tố 3: Năng lực tự đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh quá trình học tập (gồm 2 tiêu chí: tự đánh giá nhận thức bản thân, rút kinh nghiệm và tự điều chỉnh tìm kiếm thông tin).

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp mô hình trường học mới VNEN với quy trình 5 bước tổ chức bài học định hướng năng lực: Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, Vận dụng và Tìm tòi mở rộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lý luận, thực tiễn và thống kê toán học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Khái quát hóa các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục, các tài liệu chuyên ngành phương pháp dạy học hóa học và tài liệu mô-đun tự học.
  • Nguồn dữ liệu và chọn mẫu thực tiễn: Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu 170 học sinh thuộc 4 lớp (khối 11 và khối 12) tại trường THPT Kinh Môn nhằm đánh giá thói quen, thời gian và nhu cầu tự học.
  • Thiết kế thực nghiệm sư phạm: Lựa chọn mẫu tương đương gồm các cặp lớp thực nghiệm và đối chứng tại THPT Kinh Môn (lớp 11A, 11D thực nghiệm đối sánh với 11B, 11E đối chứng) và THPT Phúc Thành (lớp 11A thực nghiệm đối sánh với 11B đối chứng). Nhóm thực nghiệm học tập với tài liệu tự học có hướng dẫn và tiến trình VNEN; nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Áp dụng thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lý điểm kiểm tra (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, giá trị kiểm định t-test và đồ thị đường lũy tích) kết hợp bảng kiểm quan sát hành vi tự học nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng ban đầu trên 170 học sinh mang lại các số liệu đáng chú ý: 100% học sinh đã biết đến khái niệm tự học, 95,8% hiểu đúng bản chất tự học là tự tìm tòi và tích lũy tri thức, nhưng chỉ có 51,7% tự tin khẳng định mình có năng lực tự học. Có 32,9% thời gian tự học của học sinh bị phụ thuộc hoàn toàn vào khối lượng bài tập về nhà và 56,5% thừa nhận kết quả chưa cao do thiếu phương pháp học tập khoa học. Đặc biệt, 94,1% học sinh bày tỏ nhu cầu cấp thiết cần có một bộ tài liệu tự học có hướng dẫn chi tiết kèm bài tập phân dạng và hệ thống tự kiểm tra đánh giá.

Khi đưa tài liệu tự học có hướng dẫn và mô hình VNEN vào thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Kinh Môn và THPT Phúc Thành, kết quả kiểm tra định lượng sau tác động cho thấy sự bứt phá vượt bậc:

  • Điểm trung bình bài kiểm tra chuyên đề Amoniac và Axit nitric của các lớp thực nghiệm (11A, 11D THPT Kinh Môn) đạt từ 7,42 đến 7,85 điểm, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các lớp đối chứng (11B, 11E) chỉ đạt mức từ 6,28 đến 6,65 điểm.
  • Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi (từ 7,0 đến 10 điểm) ở các lớp thực nghiệm đạt trên 72,5%, cao hơn nhóm đối chứng khoảng 18,3% đến 24,6%. Tỷ lệ học sinh yếu kém ở nhóm thực nghiệm giảm xuống dưới 3,5%.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc tài liệu tự học có hướng dẫn được thiết kế khoa học theo 6 bước: xác định chuẩn mục tiêu, định hướng tài liệu, hệ thống câu hỏi dẫn dắt, bài kiểm tra 15 phút lần 1, nội dung thông tin phản hồi và bài kiểm tra nâng cao lần 2. Cấu trúc này buộc học sinh phải trải qua đầy đủ chu trình tự nghiên cứu và tự điều chỉnh thay vì thụ động nghe giảng.

Khi phân tích dữ liệu qua đồ thị đường lũy tích phân bố điểm số, đường biểu diễn của các lớp thực nghiệm luôn nằm lệch hẳn về phía bên phải so với đường lũy tích của các lớp đối chứng, chứng minh chất lượng tiếp thu đồng đều ở mức cao. Trên bảng kiểm quan sát chỉ báo năng lực, nhóm học sinh thực nghiệm thể hiện rõ tính chủ động khi tham gia hoạt động nhóm theo mô hình VNEN: 82,4% học sinh chủ động lập kế hoạch tự học và duy trì thảo luận hiệu quả, trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 41,2%. Những phát hiện này hoàn toàn tương thích và phát triển sâu hơn các công trình nghiên cứu tự học theo mô-đun của Bùi Thị Tuyết Mai năm 2007 và Nguyễn Thị Ngà năm 2010 trong bộ môn Hóa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nhân rộng hiệu quả phát triển năng lực tự học:

  • Chuẩn hóa và biên soạn đồng bộ tài liệu tự học có hướng dẫn: Sở Giáo dục và Đào tạo cùng tổ bộ môn tại các trường trung học phổ thông cần tổ chức biên soạn tài liệu tự học cho toàn bộ chương trình Hóa học lớp 11 và 12. Tài liệu phải tích hợp đầy đủ hệ thống câu hỏi bản chất, phân dạng bài tập lý thuyết, bài toán định lượng và bài tập gắn với thực tiễn sản xuất phân bón, axit, hướng tới mục tiêu tăng tối thiểu 30% thời lượng tự học hiệu quả ngoài giờ lên lớp cho học sinh trong năm học.
  • Đổi mới tiến trình dạy học trên lớp theo 5 bước mô hình VNEN: Giáo viên bộ môn cần chuyển giao triệt để vai trò trung tâm cho học sinh thông qua hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi và nhóm tự quản. Triển khai kế hoạch bài dạy linh hoạt theo 5 pha hoạt động (Khởi động - Hình thành kiến thức - Luyện tập - Vận dụng - Tìm tòi mở rộng) ngay từ đầu học kỳ 1.
  • Thiết lập hệ thống công cụ đánh giá đa chiều năng lực tự học: Nhà trường cần áp dụng bảng kiểm quan sát, phiếu đánh giá tiêu chí chỉ báo hành vi và sổ ghi chép cá nhân của học sinh. Kết hợp đồng thời 3 hình thức đánh giá: học sinh tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng trong nhóm và giáo viên đánh giá định kỳ hàng tháng.
  • Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên Hóa học: Tổ chức các chuyên đề tập huấn cấp cụm trường và cấp tỉnh về kỹ thuật biên soạn tài liệu tự học có hướng dẫn (dành từ 3 đến 5 giờ biên soạn cho mỗi giờ dạy) và kỹ năng điều phối lớp học theo định hướng phát triển năng lực người học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giáo viên giảng dạy môn Hóa học tại các trường trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp các giáo án thực nghiệm mẫu, hệ thống bài tập phân dạng chương Nitơ - Photpho và quy trình 6 phần của tài liệu tự học để áp dụng ngay vào giảng dạy thực tế trên lớp.
  • Học sinh trung học phổ thông, đặc biệt là học sinh lớp 11 và 12: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang phương pháp tự học khoa học, nắm vững các chuyên đề trọng tâm về nitơ, amoniac, axit nitric, photpho, phân bón hóa học và rèn luyện kỹ năng giải bài tập từ cơ bản đến nâng cao.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn: Sử dụng cơ sở lý luận, bảng mô tả chỉ số hành vi năng lực tự học và mô hình bài dạy VNEN làm tài liệu tham khảo để chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá theo chương trình giáo dục phổ thông.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học: Kế thừa khung cấu trúc 3 thành tố năng lực tự học, quy trình thiết kế công cụ đo lường và phương pháp xử lý thống kê thực nghiệm sư phạm cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực tự học của học sinh trong nghiên cứu được cấu thành từ những yếu tố nào?

Năng lực tự học được cấu trúc khoa học gồm 3 năng lực thành phần với 7 tiêu chí đo lường: Năng lực xác định mục tiêu và nhiệm vụ học tập (3 tiêu chí); Năng lực lập và thực hiện kế hoạch học tập (2 tiêu chí); Năng lực tự đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh quá trình học tập (2 tiêu chí). Mỗi tiêu chí đều có 3 mức độ chỉ báo hành vi cụ thể.

Cấu trúc một bài học trong tài liệu tự học có hướng dẫn gồm những phần nào?

Một bài học chuẩn trong tài liệu tự học có hướng dẫn gồm 6 phần: Mục tiêu học sinh cần đạt; Tài liệu tham khảo; Hệ thống câu hỏi hướng dẫn tự học; Bài kiểm tra trắc nghiệm 15 phút lần 1; Nội dung thông tin phản hồi chi tiết; Bài tự kiểm tra đánh giá lần 2 ở mức độ nâng cao kèm thang điểm đối chiếu.

Mô hình trường học mới VNEN hỗ trợ phát triển năng lực tự học như thế nào?

Mô hình VNEN chuyển đổi vai trò của giáo viên từ truyền thụ một chiều sang hướng dẫn, tổ chức lớp học thông qua hội đồng tự quản và các nhóm học tập. Bài học triển khai qua 5 hoạt động liên hoàn (Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, Vận dụng, Tìm tòi mở rộng), kích thích học sinh tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề và tự đánh giá năng lực.

Thực trạng tự học của học sinh trung học phổ thông trước khi thực nghiệm ra sao?

Khảo sát trên 170 học sinh tại THPT Kinh Môn cho thấy dù 100% học sinh biết thuật ngữ tự học nhưng có tới 56,5% chưa có phương pháp học tập phù hợp, 32,9% học sinh chỉ tự học khi bị ép buộc bởi bài tập về nhà và 94,1% học sinh khao khát có tài liệu tự học có hướng dẫn chuẩn hóa để cải thiện kết quả.

Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh tính khả thi của đề tài như thế nào?

Kết quả thực nghiệm tại 2 trường THPT Kinh Môn và THPT Phúc Thành khẳng định điểm trung bình kiểm tra của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng từ 1,14 đến 1,20 điểm. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng từ 18,3% đến 24,6%, đồng thời các chỉ số hành vi tự giác, lập kế hoạch và tự điều chỉnh của học sinh đều đạt mức tối ưu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tự học, chu trình tự học 4 giai đoạn và phương pháp tổ chức dạy học theo tài liệu có hướng dẫn kết hợp mô hình VNEN.
  • Xây dựng thành công bộ công cụ đo lường năng lực tự học gồm 3 năng lực thành phần, 7 tiêu chí đánh giá và bảng kiểm quan sát hành vi chi tiết.
  • Thiết kế trọn bộ tài liệu tự học có hướng dẫn lý thuyết, tài liệu phân dạng bài tập và hệ thống giáo án thực nghiệm chương Nitơ - Photpho môn Hóa học 11.
  • Thực nghiệm sư phạm tại 2 trường THPT Kinh Môn và THPT Phúc Thành đã chứng minh tính hiệu quả và tính khả thi vượt trội của các biện pháp sư phạm đề xuất.
  • Nghiên cứu mở ra hướng triển khai đồng bộ cho toàn bộ chương trình Hóa học phổ thông trong các học kỳ tiếp theo nhằm đáp ứng toàn diện mục tiêu đổi mới căn bản giáo dục. Quý thầy cô và bạn đọc hãy áp dụng ngay quy trình biên soạn tài liệu tự học có hướng dẫn này vào thực tiễn giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.