Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học phát triển năng lực và bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí, bài tập Vật lí và phương pháp hướng dẫn giải bài tập Vật lí THPT. Chương 2: Biên soạn hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Tĩnh học vật rắn nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh giỏi Vật lí THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÍ, BÀI TẬP VẬT LÍ VÀ PHƢƠNG PHÁP HƢỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lí luận về năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt hiệu quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Cấu trúc của năng lực Tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau về năng lực các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những mô hình năng lực khác nhau ví dụ như: mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng; mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân; mô hình dựa trên các kết quả và chuẩn đầu ra. Cấu trúc chung của năng lực hành động bao gồm các năng lực thành phần sau: - Năng lực chuyên môn - Năng lực phương pháp - Năng lực xã hội - Năng lực cá thể Giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn mà cần phải phát triển các năng lực thành phần khác. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với nhau. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
[17] Mô hình năng lực theo OECD,Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD, người ta xây dựng mô hình năng lực đơn giản hơn, năng lực được chia thành hai nhóm chính: năng lực chung và các năng lực riêng, [18, tr19] Năng lực chung: Là năng lực cơ bản. thiết yếu để con người có thể hành động độc lập thành công, có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển thông qua các môn học Năng lực chung của HS có thể phân thành hai nhóm + Nhóm năng lực nhận thức: Đó là các năng lực gắn liền với các quá trình tư duy. [18, tr 20] + Nhóm năng lực phi nhận thức: Đó là nhóm năng lực không thuần tâm thần, mà có sự pha trộn các nét/ phẩm chất nhân cách như năng lực vượt khó; năng lực thích ứng; năng lực thay đổi suy nghĩ/ tạo niềm tin tích cực; năng lực ứng phó stress; năng lực lãnh đạo…[18, tr 20] Năng lực riêng( chuyên biệt ): Là năng lực được hình thành và phát triển nhờ một lĩnh vực hay môn học nào đó.
Ví dụ năng lực đọc diễn cảm là năng lực riêng được hình thành và phát triển nhờ môn Tiếng Việt và văn học. Theo tài liệu tập huấn về kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học, Bộ giáo dục và đào tạo năm 2015 thì cấu trúc của năng lực xét về thành phần cấu tạo, “ năng lực được cấu thành bởi các thành tố kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất,. Năng lực sáng tạo (NLST) NLST là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người [13, tr 29] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NLST thể hiện rõ nét nhất ở khả năng tư duy sáng tạo, là đỉnh cao nhất của quá trình hoạt động trí tuệ của con người. [13] Tóm lại, NLST là khả năng huy động vốn kiến thức sẵn có với kĩ năng và thái độ để tạo ra giải pháp mới hoặc ý tưởng mới có giá trị đối với con người.
Những biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập + Năng lực vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng đã biết vào các tình huống mới: Chẳng hạn như HS biết vận dụng linh hoạt kiến thức toán học để giải quyết các bài toán Vật lí. + Năng lực nhận biết vấn đề mới trong những điều kiện quen biết [10,tr71]: ví dụ như khi học về công thức cộng vận tốc HS nhận biết ra bản chất của vấn đề chính là phép cộng các đại lượng vectơ đã được học trong toán học và hiểu hơn về ý nghĩa của phép cộng vectơ. + Năng lực nhận thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu[10,tr71]: ví dụ một bài toán là tổng hợp của nhiều bài toán đơn giản đã được học như bài toán con lắc đơn dao động va chạm vào một vật khác bỏ qua ma sát, chẳng hạn cần xác định tầm ném xa của vật. Khi đó HS sẽ phát hiện được đây là tổng hợp của ba bài toán đơn giản là con lắc đơn, bảo toàn động lượng và bài toán vật ném xiên.
+ Năng lực đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống[10,tr71]: Có thể có nhiều cách giải đối với một bài toán, năng lực kết hợp các phương pháp giải để tìm ra lời giải ngắn nhất. Ví dụ khi giải bài toán cực trị Vật lí HS có thể đưa ra nhiều phương pháp như vận dụng các bất đẳng thức Cô-si; Bu- nhi-a-cốp-ski hoặc phương pháp khảo sát hàm số; phương pháp đồ thị. hoặc khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đề xuất hoặc đưa ra các dự đoán khi phải lí giải một tình huống cụ thể. + Năng lực nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau [10,tr71], xem xét các đối tượng theo quan điểm biện chứng: Ví dụ HS có thể giải quyết 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các bài toán động học chất điểm bằng các định luật Newton hoặc giải theo quan điểm năng lượng.
+ Năng lực phản biện một vấn đề bằng lí thuyết: Chẳng hạn như phát hiện ra những điều bất hợp lí, những bất ổn trong những quy luật phổ biến hoặc trong những hiện tượng, sự vật cụ thể dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm và khả năng trực giác cao của chủ thể. Rõ ràng, nếu không dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm, không quan tâm đặc biệt đến sự chuyển động của thời gian, có lẽ Einstein sẽ không thể đưa ra được “thuyết tương đối” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Những cấp độ biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập + Cấp độ thấp của NLST: Mức độ tái hiện kiến thức, bắt chước, có thể làm tương tự các bài toán như tương tự về phương pháp giải quyết, tương tự về phương pháp luận hay vận dụng từ định luật hoặc định lí vào bài toán cụ thể. Tái hiện và bắt chước là tính sáng tạo ở mức độ thấp nhưng nhưng nó lại là tiền đề cơ bản để có điều kiện nâng khả năng sáng tạo lên mức cao hơn.
+ Cấp độ cao hơn của NLST: Là tích cực tìm tòi, tìm ra những những tính chất mới, những dự báo, những qui trình, những hướng giải quyết mới, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở tự giác, HS có nhu cầu, động cơ và hứng thú để giải quyết các tình huống. Ở mức độ này HS có sự độc lập trong tư duy. tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải quyết vấn đề và biết tự đánh giá kết quả đạt được, say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức đã học theo nhiều hướng khác nhau. [10,tr72] + Mức độ cao nhất của NLST: Là tích cực tìm ra cái mới, HS tự tìm ra kiến thức mới hoặc sự sáng tạo trong phương pháp.
Ở mức độ này HS có khả năng tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tưởng tượng, tương tự. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những điều kiện cần thiết để rèn luyện NLST của HS trong học tập + Trước hết cần tạo ra hứng thú học tập cho HS: Để nảy sinh sáng tạo trước hết phải có hứng thú và sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú mới. + Muốn sáng tạo thì cần phải có kiến thức cơ bản vững chắc: HS phải biết vận dụng linh hoạt tri thức đã biết vào tình huống mới.
Mọi con người bình thường đều có khả năng sáng tạo, biết kết hợp cái cũ, tạo ra cái mới đều là sáng tạo, sáng tạo không chỉ dành riêng cho những thiên tài. + Để sáng tạo cần có tư duy phê phán: HS có tư duy phê phán thì mới nhìn ra góc khuất của vấn đề, từ đó mới đưa ra được các giải pháp mới, tìm ra được cái mới. Một số biện pháp rèn luyện NLST cho HS + Biện pháp 1: Rèn cho HS có thói quen phân tích, tổng hợp, dự đoán. + Biện pháp 2: Rèn cho HS biết nhìn nhận một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau.
+ Biện pháp 3: Rèn cho HS biết giải quyết vấn đề bằng nhiều phương pháp khác nhau. [10,tr73] + Biện pháp 4: Rèn cho HS biết hệ thống hóa kiến thức, khái quát hóa phương pháp giải chung cho từng chủ đề, phương pháp đặc biệt hóa, phương pháp tương tự. + Biện pháp 5: Rèn cho HS biết vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn, quan tâm đến những sai lầm của HS, tìm nguyên nhân và cách khắc phục. + Biện pháp 6: Rèn cho HS có tư duy phản biện.
+ Biện pháp 7: Chú trọng đặt câu hỏi định hướng HS phát hiện vấn đề mới và giải quyết vấn đề. Dạy học theo định hƣớng tiếp cận năng lực Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực ngoài việc tích cực hóa hoạt động trí tuệ của HS còn phải rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, gắn hoạt động 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trí tuệ với hoạt động thực hành.[18, tr 67,68] Tăng cường các hoạt động nhóm, xây dựng mối quan hệ GV – HS sinh theo hướng cộng tác.