phần mở đầu, phần kết luận và 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chƣơng 2. Phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học dự án một số nội dung hình học 8 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan trên thế giới Chƣơng trình giáo dục phổ thông của Singapore đã nêu rõ để phát triển tƣ duy phê phán và tƣ duy sáng tạo, nếu học sinh biết cách suy luận để đƣa ra các kết quả hợp lí, hiểu cách phê phán, phản biện, bảo vệ ý tƣởng của mình một cách tích cực, thể hiện sự tò mò trƣớc các nội dung mới và có thể sáng tạo, tìm cách giải quyết các vấn đề phức tạp. [29] Trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông của Úc (2013) [30] đã đề xuất về 7 năng lực chung cần phát triển cho HS và một trong số đó có năng lực tƣ duy phê phán và sáng tạo. Chƣơng trình cũng xác định rõ: HS phát triển NLST bằng việc khám phá các ý tƣởng, kết nối với những kiến thức đã có.
HS sẽ cần thử nhiều cách khác nhau để giải quyết vấn đề cho trƣớc, hợp tác với nhau để cùng tìm ra giải pháp. HS sẽ cần đặt các câu hỏi để mở rộng ý tƣởng của mình sau đó kết hợp với ý tƣởng của những ngƣời khác, cùng nhau thực hiện trải nghiệm thực tếm đƣa ra các giả thuyết khác nhau cho sự lựa chọn thay thế hoặc đƣa ra giải pháp mới sáng tạo hơn và thực hiện ý tƣởng thông qua các ý tƣởng phù hợp cũng nhƣ trong hoàn cảnh thay đổi. Từ đó, HS phát triển năng lực tƣ duy phê phán và NLST theo cách khám phá và đánh giá kiến thức, tự xây dựng, làm rõ các khái niệm và ý tƣởng, tìm kiếm các khả năng có thể xảy ra, cuối cùng cân nhắc về các phƣơng án chọn lựa để giải quyết vấn đề. NLST và tƣ duy phê phán là một phần quan trọng của các hoạt động yêu cầu HS, sẽ rèn luyện cho học sinh khả năng suy nghĩ sâu sắc về việc sử dụng các kĩ năng, hành vi,.
cũng nhƣ nguyên nhân, tính logic, sắp xếp, sự tƣởng tƣợng, sẵn sàng đổi mới trong tất cả các lĩnh vực môn học trong nhà trƣờng hay trong cuộc sống của HS ngoài nhà trƣờng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ Giáo dục và Quản lí chƣơng trình của Anh cho rằng, DH phát triển NLST không chỉ thực hiện ở một vài môn học hay tiết học mà cần đƣợc thực hiện trong thời gian dài, trong các môn học ứng với nội dung trong chƣơng trình học và điều này dẫn đến phải phát triển chuyên môn cho GV ở tất cả các cấp học và thậm chí thay đổi cách quản lí họ dể khuyến khích việc DH phát triển NLST [24, tr. Tình hình nghiên cứu và các vấn đề ở trong nước Chƣơng trình dự thảo giáo dục phổ thông năm 2015 đã đặt mục tiêu DH để phát triển năng lực cho HS, trong đó NLST đƣợc xem là một năng lực cơ bản của HS Việt Nam trong thế kỉ XXI. Phát triển năng lực sáng tạo cho ngƣời học đƣợc xác định cho từng cấp học, qua các môn học và các hoạt động trải nghiệm, cần thay đổi các phƣơng pháp DH mới, tích cực, hƣớng ngƣời học làm trung tâm và một trong số đó có DH dự án [3].
Việc phát triển NLST đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ nhiều năm về trƣớc. Ví dụ nhƣ, trong đó nhƣ tuần báo Vietnamnet ngày 03/06/2011 đã đăng bài viết của tác giả Phạm Duy bắt đầu bằng nền giáo dục sáng tạo ở một số nƣớc và các trăn trở về Giáo dục Việt Nam ngày đó. Tác giả Anh Vũ với bài viết Tiếp cận phƣơng pháp giáo dục sáng tạo trên Thời báo vi tính Sài Gòn đã chỉ ra tầm quan trọng của mô hình DH ứng dụng ICT lấy nền tảng của DH kiến tạo để phát triển NLST cho ngƣời học. Bộ GD&ĐT cũng đã tổ chức các cuộc thi để khuyến khích GV sáng tạo nhƣ cuộc thi GV sáng tạo trên nền tảng công nghệ thông tin kết hợp với tổ chức Microsoft.
Điều này phần nào cũng đã thể hiện mong muốn thay đổi nhận thức GV về các hình thức, phƣơng pháp dạy học tích cực hơn nữa. Trang web của Microsoft (https://www.com/vi-vn/education) đang là một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm DH, tập trung vào ứng dụng ICT trong DH và cung cấp các tƣ liệu DH, trong đó có DH sáng tạo. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhạc sỹ Bùi Anh Tôn, (2013) trong bài đăng trên báo Giáo dục TP. Hồ Chí Minh online, đã chỉ ra một số PPDH phát triển sự sáng tạo cho HS.
Tác giả đã đúc kết rằng sự sáng tạo luôn gắn liền với cảm xúc và sự hứng thú. Nếu không chú trọng cảm xúc thì không có sự sáng tạo và ngƣợc lại, sáng tạo là ngọn nguồn của mọi cảm xúc. Những GV có học trò đạt thành tích cao là những ngƣời biết kết hợp nhiều PPDH và đặc biệt là luôn sáng tạo và đổi mới trong phƣơng pháp truyền tải kiến thức, khơi gợi đƣợc sự tò mò, trí tƣởng tƣợng và tạo cảm xúc cho các em. Một số nghiên cứu về Phát triển tƣ duy sáng tạo cho HS qua môn Toán bậc tiểu học của Đỗ Ngọc Miên, Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục Việt Nam, Hồ Thị Nhật về DH phát triển NLST đã xem xét các PPDH phát triển khả năng sáng tạo của HS, luận án phó tiến sĩ của Trần Luận, về vận dụng tƣ tƣởng sƣ phạm của G.
Polya xây dựng nội dung và phƣơng pháp dạy học trên cơ sở các hệ thống bài tập theo chủ đề nhằm phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên Toán cấp II [19], chuẩn bị cho sinh viên trƣờng sƣ phạm để DH Toán để phát huy tiềm năng về năng lực sáng tạo cho HS THCS [12]. Tác giả Nguyễn Cƣơng đã đƣa ra một số phƣơng pháp phát triển NLST cho học sinh nhƣ là: lựa chọn nội dung thích hợp với từng đối tƣợng HS, từ đó tạo động cơ hứng thú và tình huống có vấn đề để HS có thể đƣa ra những ý tƣởng mới, sáng tạo trong cách làm, GV kết hợp tổ chức thêm hoạt động phát triển NLST gắn với quá trình hình thành xây dựng kiến thức mới, sáng tạo trong luyện tập, rèn cho HS khả năng tự lực làm các đề tài nhỏ củng cố kĩ năng, ngoài ra, GV nên tổ chức hoạt động để có thể liên hệ lí thuyết và thực tiễn [11]. Tác giả Phạm Thị Bích Đào (2015) [13] đã nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong DH hóa học THPT với phƣơng pháp chính là PPDH giải quyết vấn đề, PPDH dự án, phƣơng pháp 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bàn tay nặn bột. Tác giả đã xây dựng đƣợc các tiêu chí đánh giá NLST của HS với các mức độ cụ thể; xây dựng các bài tập để phát triển NLST cho HS.
Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng trung học cơ sở 1. Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học Trong bối cảnh hiện nay, việc đầu tƣ cho giáo dục hiện đang là nhiệm vụ trọng tâm bên cạnh việc phát triển văn hoá – xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Khi mà chất lƣợng ngƣời lao động đang chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của công việc thì việc dành cho giáo dục những đầu tƣ ƣu tiên, đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm giành ƣu thế cạnh tranh trên trƣờng quốc tế là điều nên thực hiện. Giáo dục đóng vai trò chủ đạo của việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lƣợng của mỗi đất nƣớc và nâng cao chất lƣợng dân trí, giảm bớt các nguy cơ về tệ nạn xã hội.
Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của ngƣời học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngƣời học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phƣơng pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan.
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bƣớc theo các tiêu chí tiên tiến đƣợc xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của ngƣời dạy với tự đánh giá của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời học; đánh giá của nhà trƣờng với đánh giá của gia đình và của xã hội” [1]. Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: “Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Đổi mới chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp dạy và học, phƣơng pháp thi, kiểm tra theo hƣớng hiện đại; nâng cao chất lƣợng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tƣởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [21].