phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài đƣợc trình bày trong 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông. Chƣơng 2: Các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX, trƣờng THPT (chƣơng trình chuẩn). Thực nghiệm sƣ phạm. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1.
Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản được sử dụng trong đề tài * Năng lực. Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng. 1998) có giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo Dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “năng lực đƣợc quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ các nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của ngƣời lao động, kiến thức và kỹ năng) đƣợc thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi ngƣời lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”. Định hƣớng chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã xác định một số năng lực, những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có nhƣ.
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: + Năng lực tự học + Năng lực giải quyết vấn đề + Năng lực sáng tạo 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực xã hội bao gồm: + Năng lực giao tiếp + Năng lực hợp tác - Năng lực công cụ, bao gồm: + Năng lực sử dụng công nghệ và truyền thông + Năng lực tính toán + Năng lực sử dụng ngôn ngữ. Vì vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc đƣợc hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Giao tiếp là một hiện tƣợng tâm lý phức tạp bao gồm nhiều mặt, nhiều cấp độ và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ: trên quan điểm của tâm lý học xã hội, tâm lý học quản lý, tâm lý học kinh doanh, ngôn ngữ học, tâm lý học lứa tuối. Có rất nhều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi định nghĩa lại dựa trên những quan niệm riêng, tựu chung lại có ba xu hƣớng chính sau: Xu hƣớng thứ nhất, thu hẹp nội hàm khái niệm giao tiếp: đề cập và mô tả mặt bề ngoài của giao tiếp.
Các nhà nghiên cứu theo xu hƣớng này coi giao tiếp đơn thuần là một thông báo, thông tin, tổ hợp hành vi. Quan niệm của các tác giả theo xu hƣớng này bó hẹp quan niệm giao tiếp, đồng thời chƣa làm rõ những mối liên hệ, thành phần, bản chất bên trong của quá trình giao tiếp. Xu hƣớng thứ hai, mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp. Các tác giả xu hƣớng này có quan niệm trái ngƣợc lại với xu hƣớng thứ nhất, mở rộng khái niệm giao tiếp, thậm chí một số tác giả coi giao tiếp có chung ở cả ngƣời và động vật.
Chẳng hạn, theo tác giả B. Xocolov, giao tiếp là sự tác động giữa con ngƣời với nhau. Nếu thu hẹp hơn thì có thể hiểu giao tiếp là mối quan hệ giữa con ngƣời với những động vật nuôi trong nhà. Với những quan niệm nhƣ vậy các tác giả theo xu hƣớng này đã làm mất đi bản chất xã hội của giao tiếp ở con ngƣời.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xu hƣớng thứ ba, coi giao tiếp không chỉ là quá trình trao đổi thông tin mà còn là quá trình hiện thực hoá các mối quan hệ ngƣời- ngƣời. Các tác giả theo xu hƣớng này không đồng nhất khái niệm giao tiếp với sự tiếp xúc giũa con vật với nhau mà cho rằng giao tiếp là hiện tƣợng chỉ có ở con ngƣời. Leochiev cho rằng: Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tƣơng tác giữa ngƣời này với ngƣời khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phƣơng tiện đặc thù, mà trƣớc hết là ngôn ngữ. Giao tiếp đƣợc biểu hiện nhƣ là hình thức đặc biệt trong hoạt động của con ngƣời, giao tiếp và hoạt động là hai mặt của sự tồn tại con ngƣời.
Nhà nghiên cứu A. Lomov coi giao tiếp là phạm trù cơ bản của tâm lý học hiện đại và đƣa ra định nghĩa: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con ngƣời, với tƣ cách là chủ thể. Hoạt động và giao tiếp đƣợc xem nhƣ là hai mặt tƣơng đối độc lập của quá trình thống nhất trong cuộc sống con ngƣời” [38, tr. Xu hƣớng này đã đƣa ra khẳng định Giao tiếp là hiện tƣợng chỉ có ở con ngƣời, sản phẩm của giao tiếp là sự hiểu biết, nhận thức lẫn nhau và từ đó hình thành nhân cách.
Các tác giả cũng làm rõ nội hàn của khái niệm giao tiếp, đó là: Giao tiếp là hoạt động chỉ có ở con ngƣời, nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong xã hội. Nhờ có giao tiếp mà các mối quan hệ của con ngƣời mới đƣợc hình thành, vận hành và phát triển. Các nhà tâm lý học ở Việt Nam khi nghiên cứu về giao tiếp cũng đồng tình với xu hƣớng này. Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa:“Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ ngƣời – ngƣời để hiện thực hoá các quan hệ xã hội” [2, tr.
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con ngƣời với con ngƣời nhằm mục đích trao đổi tƣ tƣởng, tình cảm, vốn sống, kĩ năng, kĩ xảo nghề ngiệp” [38, tr. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa ngƣời với ngƣời, thông qua đó con ngƣời trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh huwongr tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ ngƣời- ngƣời, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [38, tr. Dƣới góc độ ngôn ngữ học, tác giả Diệp Quang Bán, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xác với nhau giữa cá thể khác trong một cộng đồng xã hội.
Loài động vật không làm thành những xã hội vì chúng không có giao tiếp với nhau, nhƣ loài ong, loài kiến” [38, tr. Nhƣ vây, cộng đồng không có giao tiếp chỉ là một quần thể, không có tính xã hội. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “giao tiếp nghĩa là trao đổi, tiếp xúc với nhau. Ở một khái niệm chung nhất chúng ta có thể hiểu: Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con ngƣời với con ngƣời, mà trong quá trình của nó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý, đƣợc thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự ảnh hƣởng lẫn nhau, sự rung cảm lẫn nhau, và cuối cùng là những quan hệ qua lại giữa con ngƣời với con ngƣời đƣợc thực hiện và đƣợc hình thành.
* Năng lực giao tiếp, trên cơ sở ngôn ngữ học định nghĩa: đó là việc lựa chọn và hiện thực hoá những chƣơng trình của hành vi lời nói tuỳ thuộc vào khả năng định hƣớng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở ngƣời học trƣớc khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống nhƣ giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp. * Năng lực giao tiếp trong dạy học Lịch sử ( thuộc nhóm năng lực về quan hệ xã hội). 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Năng lực giao tiếp” là khả năng sử dụng đƣợc ngôn ngữ lịch sử để trình bày một nội dung kiến thức.
Diễn đạt đƣợc ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì, tránh hiện đại hóa lịch sử. Sử dụng ngôn ngữ để biểu cảm và tái hiện cảm xúc lịch sử. Nhƣ vậy, giao tiếp là việc cần thiết và cấp bách, nhất là trong xã hội và môi trƣờng giáo dục của chúng ta hiện nay. Nhìn xa hơn và xét trong một phạm trù của bộ môn Lịch sử thì giao tiếp là một phƣơng diện trong toàn bộ hoạt động giao tiếp của con ngƣời.
Mà nhiệm vụ cơ bản là hình thành con ngƣời - giao tiếp, tức con ngƣời có năng lực giao tiếp, bao gồm giao tiếp giữa thầy với trò, giao tiếp giữa trò với trò, giữa thầy với phụ huynh, giao tiếp giữa trò với cộng đồng.2 Đặc điểm của kiến thức Lịch sử ở trường phổ thông Mục tiêu đào tạo của trƣờng THPT là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam XHCN…xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân…”. Bên cạnh đó Luật Giáo dục đã nhấn mạnh yêu cầu đối với phƣơng pháp giáo dục nói chung và phƣơng pháp dạy học nói riêng là “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Xuất phát từ những yêu cầu trên, các bộ môn trong trƣờng THPT đều hƣớng tới mục tiêu đó. Mỗi bộ môn có những đặc trƣng, phƣơng pháp dạy học riêng.
Lịch sử là quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài ngƣời từ khi con ngƣời và xã hội hình thành cho đến nay.