CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực Năng lực là một khái niệm nhận được nhiều quan tâm bởi các nhà nghiên cứu, bản thân thuật ngữ (competence) trong tiếng Anh cũng có nhiều từ gần nghĩa trong ngôn ngữ này như “năng lực hành vi” (Competence behavior), “năng lực thành phần” (aptitude), “khả năng đã được phát triển” (developed abilities), “sự thành thạo” (proficiencies), “khả năng” (ability), “trình độ” (qualification), “kỹ năng” (skill). Đặc biệt, những năm gần đây đã có nhiều đề tài đề cập đến thuật ngữ này. Năng lực (Competence) nói lên người đó có thể làm được gì, làm đến mức nào, làm với chất lượng ra sao.
Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay “tài” [10, tr. Năng lực là một trong 3 thành tố tạo lên cấu trúc nhân cách (cùng với xu hướng, tính cách và khí chất). Do là một thành tố của nhân cách nên năng lực chịu sự chi phối của các yếu tố: bẩm sinh di truyền, hoàn cảnh sống, sự giáo dục và hoạt động của cá nhân. Như vậy, cũng có thể hiểu năng lực là tổ hợp của các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả.
Năng lực là một trong những chỉ số cụ thể để so sánh nhân cách này với nhân cách khác. Năng lực cá nhân là nền tảng cho bất kỳ cá nhân nào trong xã hội. Mỗi một cá nhân tại bất kỳ ngành nghề hay lĩnh vực nào đều cần có kiến thức, thái độ và kỹ năng. Mỗi cá nhân sẽ có các yếu tố trên tại các mức độ khác nhau tùy vào trình độ học vấn, nguồn lực cá nhân, hoàn cảnh môi trường và yếu tố quan trọng nhất đó là các năng lực cá nhân.
Như vậy năng lực là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện được một dạng hoạt động nào đó. Các nhóm năng lực cá nhân Các năng lực cá nhân được hiểu là những tố chất hay những khả năng thiên phú của mỗi cá nhân có được. Các năng lực cá nhân này sẽ giúp cho mỗi cá nhân có được những kiến thức tốt hơn, thái độ tốt hơn và những kỹ năng hoàn thiện hơn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong giai đoạn học tập và làm việc sau này. Một cách thực dụng, các cha mẹ có thể quan sát và phân loại những năng lực giúp cho con mình có thể phát triển nghề nghiệp hiệu quả thông qua các nhóm năng lực sau.
Nhóm năng lực về kiến thức: Năng lực này giúp cho các em học sinh có thể nắm vững kiến thức một cách nhanh chóng. Các em học sinh theo học các ngành tự nhiên cần có năng lực thực hiện tính toán hoặc tư duy logic. Năng lực tư duy không gian ba chiều thể hiện qua các trò chơi xếp hình hoặc nặn tượng có thể là chỉ dấu nghề nghiệp nghệ thuật của các em nhỏ từ rất sớm. Năng lực ghi nhớ nhanh có thể tạo điều kiện cho các em theo các ngành như kinh tế, nghệ thuật hay luật sư.
Nhóm năng lực về kỹ năng: Năng lực này giúp cho các em học sinh có thể thực hiện các công việc nhanh chóng và hoàn hảo hơn các bạn cùng trang lứa. Các em có thể có khả năng khéo léo bàn tay thường phù hợp với các nghề hơn là các công việc văn phòng. Năng lực đối đáp trong hàng ngày tạo điều kiện cho các em trong những ngành liên quan tới hùng biện như bán hàng, luật sư, tư vấn tâm lý. Năng lực đọc nhanh có thể giúp các em thăng tiến nhanh trong môi trường khoa học và kỹ thuật.
Nhóm năng lực về thái độ: nhóm năng lực về thái độ trong cuộc sống thường được gọi là tính tình của học sinh. Các em học sinh có thái độ cạnh tranh cao trong công việc có thể phù hợp với vị trí lãnh đạo. Các em học sinh có thái độ hòa nhã khoan dung có thể trở thành những người giảng viên hoặc chuyên viên kỹ thuật. Nhóm năng lực thái độ này bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc sống, gia đình, nhà trường và các biến cố trong gia đình.
Khi nói tới năng lực cá nhân, các phụ huynh cần chú ý tới tính chất tự nhiên của các năng lực này. Một em học sinh có thể học khá về toán nhưng chưa chắc có năng lực cá nhân về toán tốt. Lý do em học khá về toán nhờ gia đình cho đi học thêm và đầu tư nhiều hơn các bạn khác. Để có thể nhận biết năng lực cá nhân một cách chính xác, các phụ huynh cần quan sát và ghi nhận các biểu hiện trong những hoàn cảnh tự nhiên của các em.
Một bạn học sinh khi ứng đối nhanh nhẹn với nhóm bạn của mình đang thể hiện tố chất tiềm năng của một quản lý. Một bạn học sinh đứng ra sửa chữa rất nhanh chiếc xe đạp hỏng của bạn bè thể hiện năng lực khéo léo chân tay và am hiểu máy móc. Các năng lực cá nhân tự nhiên của các em học sinh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể được phát hiện qua gia đình, lớp học, các tình huống trong cuộc sống, giao tiếp vui chơi với bạn bè hoặc thông qua các bài test (kiểm tra) về chuyên môn. Các năng lực cá nhân này có thể được phát hiện qua các chương trình học hè hoặc bồi dưỡng.
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra. Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực. Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.
Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
a) Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động. Chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau: + Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành.
+ Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực. + Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn. + Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng của cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phương pháp. + Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống.
+ Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học. + Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề. Đến một thời điểm nhất định nào đó, học sinh có thể phải đạt được những gì? b. Mô hình cấu trúc năng lực.
Trước hết năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó. Các năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ, và các vai trò vị trí công việc. Vì vậy, các năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc. Từ hiểu biết về năng lực như vậy, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình: + Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”.
+ Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình. + Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”. Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau.
Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: 1. Các thành phần cấu trúc của năng lực Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mối quan hệ hệ thống và quá trình.
Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn. Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.