phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho ngƣời học Chƣơng 2. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua dạy học phần dung dịch và điện hóa ở Trƣờng Sĩ quan Lục quân 1 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO NGƢỜI HỌC 1.
Năng lực và sự phát triển năng lực trong dạy học 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia” nghĩa là “trách nhiệm”. Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt, “năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” [37].
Theo Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier trong [14], năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Năng lực đƣợc hiểu nhƣ sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Trong lĩnh vực sư phạm, năng lực có thể được hiểu là: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở vận dụng hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động (Weinert, Franz E.
Các thành tố cấu thành năng lực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo chương trình giáo dục của Quebec – Canada thì: Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể trong bối cảnh nhất định. Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của việc học tập và cuộc sống. Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được coi là: - Sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn hành động để đạt được mục tiêu hình thành các năng lực chung, năng lực chuyên biệt. - Xác định mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn nội dung, PPDH và các hành động cụ thể.
Khái niệm phát triển năng lực ở đây cũng được hiểu đồng nghĩa với phát triển năng lực hành động hay còn gọi là năng lực thực hiện (Competency). Đặc điểm của năng lực Năng lực mang tính cá nhân, có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác. Năng lực thể hiện thông qua hành động, nó là một yếu tố được cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể.
Năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động. Năng lực được đánh giá bằng một kết quả/hiệu quả cụ thể, nó đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân, … ). Không tồn tại năng lực chung chung. Cấu trúc của năng lực [3, tr.
14,15] Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau, việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Nhưng cơ bản cấu trúc năng lực hành động (thực hiện) được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực chuyên môn: Khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn (bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình). Năng lực phƣơng pháp: Là khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương thức nhận thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Trọng tâm là: - Ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức.
- Có khả năng thực hiện các hoạt động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột. Năng lực cá thể: Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hoá kế hoạch đó; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Cấu trúc của năng lực hành động có thể được mô tả bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Cấu trúc chung của năng lực 1.
Một số năng lực chung cần phát triển cho sinh viên các trường ĐH, CĐ 1. Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát, thu thập và xử lý 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận. Thực tế cho thấy nhiều sinh viên thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lý để giải quyết vấn đề thực tiễn. Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các giảng viên ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề.
Trong dạy học đại học, quan trọng nhất là dạy cho sinh viên cách học, đặc biệt coi trọng dạy cho sinh viên kỹ thuật giải quyết vấn đề. Từ đó, sinh viên có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình. Năng lực tự học Năng lực tự học có ý nghĩa quan trọng, là một trong những tiền đề quyết định đến sự phát triển năng lực tư duy trong học tập và khả năng nghiên cứu của sinh viên trong và sau khi ra trường công tác. Để tiếp thu được những tri thức khoa người học viên phải tự tìm tòi, tự tổ chức việc chiếm lĩnh những tri thức khoa học của nhân loại, tức là sinh viên phải hình thành các kỹ năng tự học.
Nhờ có hoạt động tự học mà sinh viên có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”. Năng lực này cho phép người học sau khi ra trường có thể tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng với những yêu cầu mới của nghề nghiệp và xã hội. Năng lực hợp tác Năng lực hơ ̣p tác đươ ̣c hiể u là khả năng tương tác của cá nhân v ới cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Năng lực hơ ̣p tác cho thấ y khả năng làm viê ̣c hiê ̣u quả của cá nhân trong mố i quan hê ̣ với tâ ̣p thể , trong mố i quan hê ̣ tương trơ ̣ lẫn nhau để cùng hướng tới mô ̣t mu ̣c đić h chung.
Đây là mô ̣t năng lực rấ t cầ n thiế t trong xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i, khi chúng ta đang số ng trong mô ̣t môi trường , mô ̣t không gian rô ̣ng mở của quá trình hô ̣i nhâ ̣p. Năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) Năng lực NCKH là khả năng sáng tạo, phát hiện cái mới; tư duy thoáng không rập khuôn, sao chép; khả năng đưa ra các giải pháp độc đáo và hiệu quả để giải quyết một vấn đề khó. Hoạt động NCKH trong sinh viên bắt nguồn từ những hoạt động nhỏ như: tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu độc lập. NCKH đạt được mục tiêu quan trọng nhất trong dạy học đại học là rèn luyện cho sinh viên khả năng độc lập tìm kiếm, năng lực thực hiện hoàn chỉnh một qui trình NCKH, thấy được những trở ngại, khó khăn và biết cách khắc phục các khó khăn đó.
Thông qua đó sinh viên còn phát triển được khả năng tư duy sáng tạo, từng bước trau dồi phương pháp luận NCKH, gắn lí luận với thực tiễn. Năng lực đánh giá và tự đánh giá (phản biện) Dạy học đề cao vai trò tự chủ của sinh viên (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) sinh viên đánh giá và tự đánh giá mình. Có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, có hiệu quả hơn. Mặc khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kỹ năng giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của qui trình giải quyết vấn đề đòi hỏi người học phải luôn đánh giá và tự đánh giá.
Người học phải biết chính xác mặt mạnh, yếu, cái đúng, sai của mình, của việc mình làm, mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động. Không có khả năng đánh giá, người học khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Các năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên những năng lực cần thiết của một người cán bộ trong tương lai. Năng lực giải quyết vấn đề [3] 1.