phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THCS Chƣơng 2: Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chƣơng “Hiđro - Nƣớc” Hóa học 8 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THCS 1. Quan điểm về đổi mới phƣơng pháp dạy học hóa học ở trƣờng THCS theo định hƣớng phát triển năng lực “Có nhiều năng lực cần hình thành và phát triển cho HS trong DH nhƣ: Năng lực tự học; năng lực GQVĐ; năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.Trong số đó, phát triển năng lực GQVĐ cho HS là mục tiêu quan trọng, qua đó góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các năng lực khác. Để có thể đạt đƣợc mục tiêu đó, PPDH cần phải đổi mới sao cho phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học để HS có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo GQVĐ; góp phần đắc lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS để từ đó bồi dƣỡng cho HS phƣơng pháp tự học, hình thành khả năng học tập suốt đời. Điều này cũng đƣợc khảng định trong định hƣớng phát triển giáo dục và đào tạo của Bộ GD&ĐT là cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về PPDH, khắc phục lối truyền thụ một chiều, phát huy PPDH tích cực sáng tạo, tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” [3.
Nhìn chung các PPDH tích cực đều lấy HS làm trung tâm, tập trung phát huy tính tích cực, chủ động của ngƣời học, ngƣời dạy chỉ đóng vai trò là ngƣời hƣớng dẫn, điều khiển hoạt động học tập nghĩa là nhấn mạnh vai trò của HS trong quá trình DH. Trong PPDH truyền thống thì GV là ngƣời truyền thụ kiến thức một cách chủ động trong khi đó HS là ngƣời lĩnh hội kiến thức một cách máy móc, bị động. Mặc dù có thể đƣợc thể hiện qua nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣng nhìn chung các PPDH đều có các đặc trƣng cơ bản sau: - DH là tổ chức các hoạt động học tập của HS: Trong PPDH tích cực, HS đƣợc cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chƣa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã đƣợc GV sắp đặt. HS tìm hiểu những tình huống thƣờng gặp trong đời sống hàng ngày, HS trực tiếp quan sát những hiện tƣợng đã gặp, đã thấy, trao đổi ý kiến, làm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thí nghiệm, từ đó GQVĐ đặt ra theo cách suy nghĩ của cá nhân mình, qua đó lĩnh hội kiến thức, phát triển năng lực cho bản thân.
- DH rèn luyện khả năng tự học cho HS: Các PPDH tích cực chú trọng việc rèn luyện phƣơng pháp học tập cho HS, nâng cao hiệu quả DH. - DH cá thể kết hợp với DH hợp tác nhóm: Trong một lớp học trình độ kiến thức của HS không bao giờ có sự đồng đều tuyệt đối nên khi áp dụng PPDH tích cực phải có sự phân hóa về cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học đƣợc thiết kế thành một chuỗi các hoạt động học tập. Học tập hợp tác giúp bù đắp những khiếm khuyết riêng của mỗi HS, tăng nhu cầu giải quyết các vấn đề học tập. - DH kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS: Trong quá trình DH, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn giúp GV tự điều chỉnh về PPDH của chính mình.
Bên cạnh đó GV hƣớng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để từ đó tự điều chỉnh cách học của bản thân đồng thời HS có thể đánh giá chéo lẫn nhau để tự điều chỉnh bản thân. Khi dạy chƣơng trình hóa học THCS theo đổi mới PPDH, ngƣời GV phải là ngƣời tổ chức để HS hoạt động một cách tích cực chủ động sáng tạo nhƣ: quan sát, thực nghiệm, tìm tòi, thảo luận nhóm,. qua đó giúp HS tự chiếm lĩnh kiếm thức. GV không còn là ngƣời chủ động truyền đạt kiến thức mà trở thành ngƣời thiết kế, tổ chức, hƣớng dẫn hoạt động học tập của HS thông qua đó HS tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực cho bản thân.
N ăng lực và vấn đề phát triển năng lực cho học sinh THCS 1. Khái niệm về năng lực Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định; nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.11] Theo Tremblay Denyse (2002) nhà Tâm lý học ngƣời Pháp cho rằng: “Năng lực là khả năng hành động, đạt đƣợc thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động, vận dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [23. 2] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) năm 2002, sau một cuộc nghiên cứu lớn đã chỉ ra năng lực cần đạt của HS phổ thông trong thời đại kinh tế tri thức đã cho rằng: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể” [22. Nhƣ vậy, năng lực của mỗi ngƣời một phần dựa trên cơ sở tƣ chất.
Năng lực đƣợc hình thành và phát triển, nó đƣợc thể hiện ra trong các hoạt động tích cực của mỗi ngƣời. Phát triển năng lực của học sinh là đích của quá trình DH. Theo Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể - Bộ GD&ĐT tháng 7/2017 thì “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú; niềm tin; ý chí;.Năng lực của cá nhân đƣợc đánh giá qua phƣơng thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [1. Năng lực đƣợc chia ra: + Năng lực chung: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một ngƣời nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhƣng đều hƣớng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của HS. + Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào đó) là năng lực mà môn học đó có ƣu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm môn học đó). Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Theo Đỗ Hƣơng Trà: “Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động ” [19.
Ngƣời học có năng lực hành động về một loại/ lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội đủ các dấu hiệu cơ bản sau: - Có kiến thức hay hiểu biết hệ thống/ chuyên sâu về loại/ lĩnh vực hoạt động. - Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích (bao gồm xác định mục tiêu cụ thể, cách thức/ phƣơng pháp thực hiện hành động/ lựa chọn đƣợc các giải pháp phù hợp,. và cả các điều kiện, phƣơng tiện để đạt mục đích). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc.
Từ đó có thể hiểu năng lực hành động là: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực của cá nhân đƣợc đánh giá qua phƣơng thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Có thể xem xét riêng một cách tƣơng đối phẩm chất và năng lực, nhƣng năng lực hiểu theo nghĩa rộng (năng lực ngƣời) bao gồm cả phẩm chất và các năng lực hiểu theo nghĩa hẹp.
Năng lực nhận thức: HS phải có các khả năng quan sát, tƣ duy, tổng hợp, khái quát hóa, phê phán, phát hiện và giải quyết đƣợc các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập từ đó tự trau dồi kiến thức cho bản thân. Năng lực xã hội của HS đƣợc thể hiện qua khả năng giao tiếp; trình bày một vấn đề trƣớc đám đông, giải quyết các tình huống có vấn đề, điều chỉnh cảm xúc của bản thân, thích ứng đƣợc với các hoàn cảnh khác nhau. Năng lực thực hành (hoạt động thực tiễn) đòi hỏi HS phải có khả năng vận dụng tri thức từ những kiến thức đã đƣợc học vào giải quyết các vấn đề gặp phải trong thực tiễn, GQVĐ một cách linh hoạt, chủ động, tự tin, có khả năng sử dụng các công cụ cần thiết, sáng tạo, có tính kiên trì. Đặc điểm và cấu trúc của năng lực Khái niệm năng lực hành động và khái niệm kĩ năng không có sự tƣơng đồng.
Kĩ năng chỉ đƣợc định nghĩa nhƣ là khả năng thực hiện dễ dàng, chính xác một hành động có tính phức hợp và khả năng thích ứng trong các điều kiện đang thay đổi. Trong khi năng lực hành động đƣợc định nghĩa nhƣ là một khái niệm định hƣớng theo chức năng, một hệ thống phức hợp hơn, toàn diện hơn, có sự kết hợp của nhiều thành tố nhƣ các khả năng nhận thức, kĩ năng, thái độ và chứa cả các thành phần phi nhận thức nhƣ động cơ, xúc cảm, giá trị, đạo đức,. trong một bối cảnh có ý nghĩa. + Đặc điểm của năng lực: - Năng lực chỉ có thể nhìn thấy đƣợc qua hoạt động, việc làm cụ thể của cá nhân ở 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tình huống nhất định.
- Đặc điểm của năng lực luôn tồn tại dƣới hai hình thức: Năng lực chung (key competency) và năng lực đặc thù (domain-specific competency).