mở đầu cho một giải pháp nào đó khác với các giải pháp đã triển khai. Theo Havard business essentials (2003), đổi mới cũng đƣợc định nghĩa là việc áp dụng những ý tƣởng mới vào tổ chức. Cụ thể hơn, đổi mới là một quá trình biến các ý tƣởng thành các sản phẩm mới, dịch vụ mới, sản xuất đại trà và thƣơng mại hóa các sản phẩm và dịch vụ đó. Vì vậy, có thể nói những ý tƣởng mới là điểm khởi đầu cho hoạt động ĐMST.
Những ý tƣởng này đƣợc thực nghiệm, đƣa vào thực tế để cho ra đời những sản phẩm hay dịch vụ, quy trình mới. Đổi mới không chỉ dừng lại ở các ý tƣởng mà hoạt động đổi mới cần đƣợc đƣa vào hoạt động thực tiễn SXKD. Một trong những biểu hiện của đổi mới là tạo ra giá trị cho sản phẩm và cho doanh nghiệp. Các phát hiện, ý tƣởng mới là sự khởi đầu cho hoạt động ĐMST.
Để phát triển cái mới, ngƣời lao động và doanh nghiệp cần thực nghiệm, đƣa vào thực tiễn kinh doanh, sản xuất, … nhằm tạo ra sản phẩm mới hay cải tiến quy trình sản xuất, dịch vụ, phù hợp với nhu cầu thị trƣờng, khách hàng, để đổi mới là việc sử dụng các kiến thức mới nhằm cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Schumpeter (1934) đã đƣa ra nhận định sáng tạo là việc ngƣời lao động sử dụng các hoạt động nhận thức để đƣa ra những ý tƣởng mới trong doanh nghiệp. Những ý tƣởng này đƣợc ngƣời lao động hình thành thông qua quá trình học tập, làm việc và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp. Những ý tƣởng của ngƣời lao động có thể xuất phát từ việc suy nghĩ làm sao để cải tiến công việc và nâng cao năng suất đối với công việc cụ thể.
Ngoài ra, khi đứng trƣớc vấn đề mới phát sinh, lần đầu xảy ra trong doanh nghiệp, ngƣời lao động đôi khi lại đƣa ra đƣợc những ý tƣởng hoàn toàn mới để giải quyết vấn đề này. 6 Guiford (1950) nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐMST với năng lực của mỗi cá nhân, đồng thời đƣa ra quan điểm về ĐMST dựa trên mối quan hệ này. Tác giả nghiên cứu những đặc điểm có thể nhận thấy trong hành vi của ngƣời có năng lực ĐMST. Hoạt động ĐMST thể hiện trong hành vi, chịu sự tác động của nhiều yếu tố nhƣ hứng thú trong công việc, năng lực chuyên môn, tính cách cá nhân,.
Theo Phan Dũng (2010), Bộ sách “Sáng tạo và đổi mới”, NXB Trẻ, đổi mới là quá trình tạo ra cái mới. Các hệ thống liên quan tiếp nhận cái mới một cách ổn định, đầy đủ, bền vững, đảm bảo các hệ liên quan hoạt động tốt hơn. Đặc trƣng của đổi mới là tính mới, tính ích lợi đƣợc thể hiện qua các hoạt động tƣ duy, cơ sở vật chất, tri thức, … nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Bộ sách cũng đƣa ra quan điểm về sáng tạo khi cho rằng sáng tạo là quá trình tạo ra bất kì cái gì có tính mới và tính ích lợi.
Tính mới thể hiện ở sự khác biệt với những cái đã có, đã biết. Tính ích lợi đặc trƣng ở việc tăng năng suất lao động, giảm giá thành, tiết kiệm nguyên liệu,. Nhƣ vậy, ĐMST có thể đƣợc hiểu là quá trình tạo ra cái mới hay cải tiến quy trình, công nghệ, … nhằm tạo ra sản phẩm mới, nâng cao giá trị sản phẩm, nâng cao năng suất lao động. ĐMST đƣợc hiểu nhƣ là việc thực hiện một sản phẩm mới hoặc cải thiện đáng kể (sản phẩm hay dịch vụ) hoặc một quá trình, một phƣơng thức marketing mới, hoặc một phƣơng pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, tổ chức nơi làm việc hoặc quan hệ đối ngoại.
ĐMST trong kinh doanh gắn liền với sự ra đời của ý tƣởng sáng tạo mới, có tính thực tiễn và hữu ích (có thể về sản phẩm, dịch vụ, quy trình, phƣơng thức marketing hay tổ chức trong hoạt động kinh doanh) Các định nghĩa, quan điểm về đổi mới sáng tạo cho thấy vai trò của ngƣời lao động trọng hoạt động đổi mới sáng tạo. Các hoạt động đổi mới sáng tạo để xuất phát từ những phát hiện mới, ý tƣởng mới của con ngƣời. Và ngƣời lao động cũng đóng vai trò làm chủ thể của các hoạt động thực nghiệm, triển khai các hoạt động mang tính đổi mới và sáng tạo, đem lại hiệu quả cao trong SXKD. Thuộc tính đổi mới sáng tạo Nghiên cứu các quan niệm khác nhau về sáng tạo, đồng nghĩa với việc cũng tồn tại nhiều quan điểm về thuộc tính của sáng tạo.
Nhìn chung, ĐMST tạo đƣợc thể hiện thông qua các thuộc tính: tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính nhuần nhuyễn, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề. Tính mềm dẻo trong hoạt động đổi mới sáng tạo Tính mềm dẻo thể hiện năng lực nhanh chóng, dễ dàng thay đổi nhìn nhận, chuyển hƣớng hoạt động theo các điều kiện thực tế khác nhau. Từ đó, ngƣời lao động có thể thay đổi tƣ duy, phát hiện ra cái mới, tìm thấy những mối liên hệ giữa những cái đã biết để hình thành những kết hợp mới, phù hợp với điều kiện mới. Tính mềm dẻo thể hiện ở tính đa dạng trong phƣơng án giải quyết vấn đề theo nhiều cách tiếp cận, xem xét sự vật hiện tƣợng theo nhiều góc độ, cách nhìn nhận, dễ dàng di chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, suy nghĩ không dập khuôn, nhận biết vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tƣợng quen thuộc.
Tính độc đáo Tính độc đáo là một trong những thuộc tính quan trọng của sáng tạo nói chung và tƣ duy sáng tạo nói riêng. Tính độc đáo thể hiện nét mới trong các giải pháp, quy trình, sản phẩm, …. Tính độc đáo trong sáng tạo thể hiện qua khả năng liên tƣởng, tạo những kết hợp mới, nhìn ra các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tƣợng, quy trình, giải pháp và tìm ra những giải pháp mới. Tính nhuần nhuyễn Tính nhuần nhuyễn hay còn gọi là tính thuần thục là sự thể hiện mức độ chi tiết, hoàn thiện của ý tƣởng trên các phƣơng diện, tình huống, giải pháp.
Tính nhuần nhuyễn của sáng tạo là khả năng sử dụng thao tác tƣ duy, kiến thức, thông tin một cách dễ dàng, thể hiện và đo lƣờng thông qua kết quả của quá trình sáng tạo. 8 Thuộc tính này thể hiện khả năng tìm ra nhiều giải pháp dựa trên nhiều góc độ tình huống khác nhau, khả năng xem xét đối tƣợng trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tính nhạy cảm vấn đề Tính nhạy cảm vấn đề thể hiện ở sự tinh tế của cơ quan cảm giác, nhạy cảm với những bất ổn, bất hợp lý, ở năng lực trực giác đối với mỗi sự vật hiện tƣợng. Tính nhạy cảm thể hiện ở khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề mới từ nảy sinh trong điều kiện mới; khả năng phát hiện ra những mâu thuẫn, sai lầm, hạn chế, cách khắc phục, … Tính nhạy cảm chịu tác động của các yếu tố về môi trƣờng xã hội, văn hóa, tôn giáo, dân tộc,… Nhƣ vậy, các thuộc tính của ĐMST không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ nhau nhằm tạo ra cái mới, hoàn thiện quy trình, sản phẩm, … đã có.
Các thuộc tính này cần có ở mỗi cá nhân, tổ chức, là cơ sở cho phát triển năng lực ĐMST của ngƣời lao động nói riêng cũng nhƣ của doanh nghiệp nói chung. Cấp độ đổi mới sáng tạo ĐMST nói chung có thể đƣợc chia thành các cấp độ nhƣ sáng tạo biểu đạt, sáng chế, phát minh, sáng tạo ở mức độ cải biến. Mỗi cấp độ có những nét đặc trƣng riêng. Sáng tạo biểu đạt Sáng tạo biểu đạt là sự thể hiện những mối quan hệ ra bên ngoài, gắn với đời sống thực tiễn.
Cấp độ sáng tạo hình thành qua sự liên tƣởng trong đời sống hàng ngày, hoạt động sản xuất. Sáng tạo biểu đạt đƣợc thể hiện trong hoạt động giao tiếp, trong cải biến các quan hệ trong lao động, trong cuộc sống, các chi tiết mới trong sản phẩm,. Sáng chế Sáng chế là việc tạo ra những vật dụng, dụng cụ mới chƣa từng có trong tự nhiên và trong cuộc sống con ngƣời dựa trên những kiến thức phát hiện bằng khoa học cũng nhƣ kinh nghiệm thu nhận đƣợc trong cuộc sống. Sáng chế nhằm mục đích tạo sản phẩm phục vụ cho đời sống con ngƣời.
9 Sáng chế có thể thấy nhiều nhất trong lĩnh vực hoạt động công nghệ, kỹ thuật, đồ vật có tính năng, tác dụng mới đáp ứng cho cuộc sống và hoạt động của con ngƣời. Phát minh Việc phát hiện ra các quy luật của hiện tƣợng, sự vật trong tự nhiên hay đời sống xã hội. Tƣ duy là cơ sở của những phát minh. Những quy luật này đang tồn tại và tác động nhƣng con ngƣời chƣa phát hiện ra trƣớc đó.
Sáng tạo ở mức cải biến Sáng tạo cải biến thể hiện qua những thay đổi mang lại trong đời sống con ngƣời. Sự chuyển hóa trong nhận thức, cách làm hay những thay đổi trong xã hội nhờ những có những sáng chế, phát minh trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học kỹ thuật, … hay những thay đổi trong lối tƣ duy, cách xử lý tình huống trong điều kiện thực tế. Đó là kết quả hoạt động đổi mới của nhiều con ngƣời thuộc các lĩnh vực khác nhau. ĐMST trong hoạt động kinh doanh còn đƣợc thể hiện ở các cấp độ khác nhau, từ cấp độ cá nhân đến cấp độ nhóm, cấp độ tổ chức, doanh nghiệp.
Mỗi một cấp độ sáng tạo đều những đặc điểm chung của thuộc tính sáng tạo và những nét riêng đặc trƣng cho ĐMST ở từng cấp độ. Sáng tạo cấp cá nhân Sáng tạo cấp cá nhân có thể làm xuất hiện ý tƣởng sáng tạo, ý tƣởng này có thể đƣợc chia sẻ và mong muốn đƣợc tổ chức doanh nghiệp hỗ trợ để hiện thực hóa, nhƣng những ý tƣởng sáng tạo của cá nhân thƣờng gặp phải sức cản từ ngƣời quản lý trực tiếp hay từ đồng nghiệp. Do đó, độ an toàn và mức độ ủng hộ đổi mới là chỉ số dự báo cho đổi mới của doanh nghiệp. Ở cấp độ cá nhân, có thể xem xét mức độ hài lòng đối với công việc của ngƣời lao động, sự phù hợp giữa yêu cầu sáng tạo cao đối với ngƣời lao động từ môi trƣờng làm việc và năng lực sáng tạo của cá nhân ngƣời lao động sẽ làm giảm sự căng thẳng và tăng mức độ hài lòng đối với công việc và ngƣợc lại.