Nâng cao năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học tại Đại học Thái Nguyên

Tài liệu nghiên cứu Lê trung hiếu toàn văn luận án, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

209
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.4. Một số khái niệm cơ bản

1.4.1. Khái niệm năng lực

1.4.2. Năng lực dạy học

1.4.3. Nội dung và đặc điểm của môn Toán ở tiểu học

1.4.4. Năng lực dạy học môn Toán của giáo viên tiểu học

1.5. Dạy học tích hợp

1.5.1. Dạy học tích hợp môn Toán và năng lực dạy học tích hợp đối với môn Toán

1.5.2. Thành tố năng lực dạy học Toán của giáo viên tiểu học theo hướng dạy học tích hợp

1.5.3. Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển năng lực dạy học của giáo viên tiểu học trong dạy học tích hợp môn Toán

1.6. Dạy học theo chủ đề. Khái niệm về dạy học theo chủ đề trong dạy học môn Toán ở tiểu học

1.6.1. Những đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề trong môn Toán ở tiểu học

1.6.2. Đặc điểm và hình thức dạy học theo chủ đề trong môn Toán ở Tiểu học

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Hồ sơ phát triển năng lực dạy học Toán giáo viên Tiểu học

2.2. Khảo sát hồ sơ phát triển năng lực dạy học toán của giáo viên tiểu học

2.3. Thực trạng phát triển, bồi dưỡng năng lực dạy học Toán cho giáo viên tiểu học theo hướng dạy học tích hợp

2.3.1. Đối tượng khảo sát

2.3.2. Nội dung khảo sát

2.3.3. Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng

2.3.4. Kết quả khảo sát và phân tích

2.3.5. Những hạn chế, khó khăn trong dạy học Toán của giáo viên tiểu học theo hướng dạy học tích hợp

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TOÁN CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp sư phạm

3.2. Một số biện pháp sư phạm

3.2.1. Biện pháp 1: Bồi dưỡng nhận thức và năng lực xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thiết kế bài giảng dạy học Toán theo hướng dạy học tích hợp cho giáo viên tiểu học

3.2.2. Biện pháp 2: Bồi dưỡng năng lực thiết kế và tạo lập môi trường dạy học Toán theo hướng dạy học tích hợp cho giáo viên tiểu học

3.2.3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng năng lực tổ chức dạy học môn Toán theo hướng dạy học tích hợp cho giáo viên tiểu học

3.2.4. Biện pháp 4: Bồi dưỡng năng lực đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trong dạy học tích hợp cho giáo viên tiểu học

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

4.2. Đối tượng thực nghiệm

4.3. Nội dung thực nghiệm

4.3.1. Đối với giáo viên

4.3.2. Đối với học sinh

4.4. Tổ chức thực nghiệm

4.4.1. Tổ chức thực nghiệm đợt 1

4.4.2. Tổ chức thực nghiệm đợt 2

4.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học

Phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Năng lực dạy học không chỉ bao gồm kiến thức chuyên môn mà còn cần có kỹ năng sư phạm, khả năng tổ chức hoạt động học tập và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Theo Nghị quyết 29-NQ/TW, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, do đó, việc nâng cao năng lực cho giáo viên là cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

1.1. Khái niệm năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học

Năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học được hiểu là khả năng tổ chức, quản lý và thực hiện các hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh. Điều này bao gồm việc thiết kế bài giảng, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và đánh giá kết quả học tập của học sinh.

1.2. Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực dạy học toán

Việc phát triển năng lực dạy học toán không chỉ giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh. Năng lực dạy học tốt sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia và phát triển tư duy phản biện.

II. Những thách thức trong phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu hụt về tài liệu và chương trình đào tạo phù hợp. Ngoài ra, nhiều giáo viên vẫn còn gặp khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực.

2.1. Thiếu hụt tài liệu và chương trình đào tạo

Nhiều giáo viên tiểu học chưa được tiếp cận với các tài liệu hiện đại và chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu dạy học tích hợp. Điều này dẫn đến việc giáo viên khó khăn trong việc cập nhật kiến thức và kỹ năng mới.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực

Nhiều giáo viên vẫn còn quen với phương pháp dạy học truyền thống, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển năng lực học tập của học sinh.

III. Phương pháp phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học

Để phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học, cần áp dụng các phương pháp bồi dưỡng hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm bồi dưỡng nhận thức, thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động thực nghiệm sư phạm.

3.1. Bồi dưỡng nhận thức và năng lực xác định mục tiêu

Giáo viên cần được bồi dưỡng về cách xác định mục tiêu dạy học rõ ràng và phù hợp với năng lực của học sinh. Việc này giúp giáo viên có định hướng rõ ràng trong quá trình giảng dạy.

3.2. Thiết kế bài giảng theo hướng dạy học tích hợp

Thiết kế bài giảng cần chú trọng đến việc tích hợp các nội dung học tập khác nhau, giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa các môn học. Điều này không chỉ làm cho bài giảng trở nên sinh động mà còn giúp học sinh phát triển tư duy tổng hợp.

3.3. Tổ chức các hoạt động thực nghiệm sư phạm

Các hoạt động thực nghiệm sư phạm giúp giáo viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, từ đó nâng cao kỹ năng giảng dạy. Việc này cũng tạo cơ hội cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong phát triển năng lực dạy học toán

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học có tác động tích cực đến chất lượng giảng dạy. Các ứng dụng thực tiễn từ các chương trình bồi dưỡng đã giúp giáo viên nâng cao năng lực và cải thiện kết quả học tập của học sinh.

4.1. Kết quả từ các chương trình bồi dưỡng

Các chương trình bồi dưỡng đã giúp giáo viên nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực dạy học. Nhiều giáo viên đã áp dụng thành công các phương pháp dạy học tích cực trong lớp học.

4.2. Ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

Việc phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên đã góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho năng lực dạy học toán

Phát triển năng lực dạy học toán cho giáo viên tiểu học là một quá trình liên tục và cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp bồi dưỡng mới để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

5.1. Tầm quan trọng của việc tiếp tục bồi dưỡng

Việc bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo giáo viên luôn cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần xây dựng các chương trình bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu thực tiễn và xu hướng giáo dục hiện đại. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển năng lực dạy học Toán cho GV tiểu học theo hƣớng DHTH. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm 8 Chƣơng 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại.

Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lƣu sƣ phạm hiện đại bên cạnh các trào lƣu sƣ phạm theo mục tiêu, giải quyết vấn đề, phân hóa, tƣơng tác. Trào lƣu sƣ phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở ngƣời học những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt động tích hợp trong đó ngƣời học học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác đã lĩnh hội một cách riêng rẽ. Cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chƣơng trình GD bắt đầu đƣợc đề cao ở Mỹ và các nƣớc châu Âu từ những năm 60 của thế kỷ XX. Gần một thập kỷ sau đó vấn đề này mới đƣợc quan tâm ở châu Á và ở Việt Nam (vào những năm 70 - 80 của thế kỷ XX).

Ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nƣớc đã triển khai quan điểm tích hợp những mức độ nhất định. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã có những hội thảo với các báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp của các nƣớc tới dự. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 60 đến năm 74 của thế kỉ XX trong số 392 chƣơng trình đƣợc điều tra đã có 208 chƣơng trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề [22]. Tích hợp đƣợc hiểu nhƣ một khái niệm khoa học đầy đủ trong GD vào những năm 80 của thế kỷ XX trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa của thế giới.

Trong thời gian này, khái niệm tích hợp, đã đƣợc xác định đầy đủ và vững chắc trong các công trình triết học và khoa học khác. Bởi vậy, có không ít ngƣời nhận định sai lệch rằng tích hợp trong GD đƣợc xuất hiện nhờ sự dịch chuyển đơn giản khái niệm từ các khoa học khác. Cần phải thấy rằng tích hợp đã đƣợc các nhà GD bàn luận ngay cả khi không đƣợc các nhà triết học, PP luận quan tâm. Trong GD, tích hợp có sự phát triển lâu dài hàng trăm năm.

Việc xuất hiện khái niệm tích hợp trong GD vào những năm 80 của thế kỷ XX là kết quả của sự phát triển các quá trình tích hợp trong GD. Kinh nghiệm tích hợp trong GD nƣớc Nga thế kỷ XX có thể phân chia thành 3 giai đoạn kế tiếp nhau dựa trên chất lƣợng phát triển: Giao thời của thế kỷ XX- Nhà trường lao động; Từ những năm 50 đến những năm 70- mối quan hệ liên môn; Từ những năm 80 đến 90- Tích hợp (tham khảo [22]). 9 Quan điểm nhà trường lao động đã đƣợc khởi xƣớng bởi nhà GD, triết gia ngƣời Mỹ John Deway (1859-1952). Trong cuốn sách “Dân chủ và giáo dục” (NXB Tri thức, Hà Nội, 2008, Phạm Anh Tuấn dịch), J.

Deway đã viết “chúng ta cần phải xem xét các công việc nhà trường trong sự gắn bó với sản xuất, với gỗ, vải, sợi, kim loại và phải coi đó như là PP sống và học tập… Bằng cách đó, bản thân nhà trường sẽ trở thành đời sống xã hội sôi động trong thực hiện thay vì việc thu hẹp mình khỏi đời sống”. Ông đã đƣa ra nguyên tắc về sự thống nhất giữa lao động với dạy học, theo đó nhà trường lao động là điều cần thiết để khắc phục sự tách biệt giữa nhà trường và cuộc sống. Với sự phát triển của giáo dục và xã hội, tính đơn môn và sự đóng cửa của nhà trƣờng với cuộc sống trong GD ở nhà trƣờng truyền thống đã dần đƣợc thay thế bởi nhà trƣờng kiểu mới với tƣ tƣởng chủ đạo là đƣa cuộc sống vào các hoạt động GD trong nhà trƣờng, liên kết các môn học theo thực tiễn cuộc sống sôi động ngoài xã hội. Các nguyên tắc lý luận dạy học đƣợc đƣa ra dựa trên cơ sở nền tảng của của mối liên hệ liên môn - tích hợp đã chi phối việc kiến tạo các quá trình GD cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Theo cách hiểu thông thƣờng, các mối liên hệ liên môn biểu hiện nhƣ là sự hỗ trợ có tính định hƣớng (tập trung) cho mỗi môn khoa học, bởi tri thức khoa học và PP nhận thức của một số môn học khác. Với cách tiếp cận mới này - các mối liên hệ liên môn (chứ không phải là một môn học) hệ thống lý luận dạy học đã có đƣợc sự định hƣớng rõ ràng để chỉ đạo việc lựa chọn nội dung và PP truyền thụ cho HS trong quá trình dạy học. Nghiên cứu khoa học GD đầu tiên về vấn đề tích hợp “Các quá trình tích hợp trong khoa học GD và thực tiễn GD - dạy học chủ nghĩa cộng sản đƣợc xuất bản năm 1983. Khái niệm tích hợp đã đƣợc đƣa vào GD học Xô Viết trong tác phẩm này.

Theo ý kiến của các tác giả, tuyển tập của họ là những ý tƣởng đầu tiên phản ánh bản chất các quá trình tích hợp trong GD nhƣ là tính quy luật của khoa học” [22]. Phormenko (1996) “tích hợp đó là phƣơng thức hình thành nhân cách phát triển toàn diện con ngƣời Xô Viết" [22] và điều đó đã nhấn mạnh tới phƣơng thức GD quan trọng này trong việc thực thi các nhiệm vụ cơ bản của GD. Cùng với các tác giả nhƣ V. cũng đều thống nhất nhận định về tích hợp nhƣ là một nguyên tắc lý luận dạy học.

Vào cuối những năm 80 cho tới giữa những năm 90 của thế kỷ trƣớc đã xuất hiện các giáo trình và bài học tích hợp ở tất cả các môn học trong nhà trƣờng phổ 10 thông. Bản thân tƣ tƣởng về lý luận DHTH (xét về mặt hình thức) đã đƣợc đề cập tới trong tƣ tƣởng GD truyền thống thì nay đƣợc triển khai một cách có hệ thống: cấu trúc của nội dung các môn học, PP dạy học, tổ chức quá trình dạy học. Tƣ tƣởng này đã đƣợc giáo giới Xô Viết tiếp nhận trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của nhà trƣờng lao động và mối liên hệ liên môn của GD truyền thống thời gian trƣớc đó với sự chỉ đạo về mặt lý luận và tìm tòi sáng tạo trong hoạt động dạy học. Tƣ tƣởng tích hợp đƣợc khởi động với các chƣơng trình và bài học về kỹ thuật (kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, nữ công gia chánh, thủ công), tiếp đến là các môn khoa học tự nhiên (Lý, Hoá, Sinh) và sau đó là các môn khoa học xã hội và nhân văn (Văn, Sử, Địa, GD công dân, Đạo đức, Thẩm mỹ, Nghệ thuật).

Chuyển từ mối liên hệ liên môn cơ học sang tích hợp môn học là rất phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực vƣợt bậc của ngƣời GV trong việc tìm tòi nội dung tích hợp và PP gắn kết chúng thành một thể thống nhất phục vụ bài học [22]. Đóng góp đáng kể cho việc hình thành hệ thống lý luận DHTH, vào nửa đầu những năm 90 của thế kỷ XX dƣới sự chỉ đạo của V. Phormenko, các nhà GD Xô Viết đã tiến hành nghiên cứu chƣơng trình tích hợp một cách có hệ thống với cụm đề tài “Xây dựng quá trình dạy học trên cơ sở tích hợp”. Các tác giả tiến hành xác lập các phƣơng thức xây dựng chƣơng trình tích hợp trong GD, đƣa ra cách phân loại các phƣơng thức đó, hình thành khái niệm về các sự kiện tích hợp và cần đƣợc tích hợp [22].

Về mô hình chƣơng trình DHTH, trên thế giới có ba loại phổ biến: Mô hình đa môn (interdisciplinary model), mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) và mô hình dựa trên các chủ đề (themebased model). Ở Mỹ: Tùy mỗi HS, chƣơng trình học có thể khác nhau nhƣng những môn học chính là: Khoa học tự nhiên (Sinh vật, Hóa học, Vật lý), Toán học (Đại số, Hình học, Tiền tích phân) Tiếng Anh, Khoa học xã hội (Lịch sử thế giới, Lịch sử Mỹ, Kinh tế học và Chính trị) và thể thao tổng quát. Những môn học tự chọn nhƣ: Nghệ thuật, Nghệ thuật sân khấu, Giáo dục kỹ thuật, Computer, Thể thao chuyên môn, Báo chí, Ngoại ngữ Tại một trƣờng trung học của Mỹ, để giảng dạy chƣơng trình tích hợp, thƣờng có 4 GV phụ trách 110 HS. Những môn học chính, gồm: Ngôn ngữ, Toán, Khoa học, Xã hội [22].

Ở Hàn Quốc: Hệ thống GDPT Hàn Quốc theo mô hình 6-3-3, tức là 6 năm Tiểu học, 3 năm THCS, và 3 năm THPT. Trong chƣơng trình GDPT của Hàn Quốc 11 vấn đề tích hợp đƣợc thể hiện rõ nhất ở giai đoạn giáo dục cơ bản, bao gồm chƣơng trình Tiểu học và THCS. Với chƣơng trình Tiểu học, các nội dung tích hợp đƣợc thực hiện cao độ và đậm đặc ở lớp 1 và 2 với các nội dung nhƣ: chúng ta là lớp Một, cuộc sống dễ chịu, cuộc sống thông minh và cuộc sống kỷ luật. Từ lớp 3 đến lớp 10, hết giai đoạn GD cơ bản, các nội dung tích hợp thể hiện rõ 2 môn: Khoa học (Science) và Tìm hiểu xã hội (Social study) [52].

Chƣơng trình giáo dục của Hàn Quốc đƣợc đổi mới khá thƣờng xuyên, từ năm 1955-2009 đã thay đổi 9 lần. Tuy nhiên, ngày 23 tháng 9 năm 2015, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã thông qua “Hƣớng dẫn quốc gia về chƣơng trình giảng dạy quốc gia sửa đổi năm 2015”. Chƣơng trình giảng dạy quốc gia mới sẽ đƣợc thực hiện đầy đủ vào năm 2020 và mục tiêu chính của chƣơng trình giảng dạy mới là một “ngƣời học sáng tạo và tích hợp”. Trong khi hệ thống giáo dục Hàn Quốc đã tập trung hơn vào việc cung cấp kiến thức chuẩn, tầm nhìn mới tìm cách thúc đẩy sự linh hoạt và sáng tạo về cách học sinh giải quyết những thách thức mới của thế kỉ [52].

Ở Pháp: Môn Lịch sử, Địa lý - Giáo dục công dân kết hợp thành một môn, song vẫn tồn tại 3 phân môn độc lập. Bên cạch đó, môn này cũng đƣợc khuyến nghị dạy tích hợp với các môn khác nhƣ Lịch sử, Nghệ thuật [86]. Ở Đức: Các môn học tích hợp trong chƣơng trình dạy học hiện đại ở hai bang Berlin và Brandenburg các môn tích hợp các Khoa học tự nhiên và các khoa học xã hội đƣợc dạy ở lớp 5 và 6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ