Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Chương 2: Các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS lớp 12 trong dạy học kí hiện đại Việt Nam Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”. Theo John Erpenbeck (1998),“năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” [Theo 55, tr.
Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [3, tr. Các tác giả của chương trình Quesbec trong Ministere de l’Education (2004) thì cho rằng: năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [14, tr. Ở Việt Nam, các tác giả trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa:“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [54, tr. 660] Trên phương diện tâm lý học, Trần Việt Dũng cho rằng:“Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt.
Trong tài liệu Tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phát hành năm 2014 thì Năng lực được quan niệm “là sự kết hợp một cách linh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6, tr. 46] Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn: Năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Đó là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kỹ năng thuần thục và thái độ phù hợp của mỗi cá nhân. Trong dự thảo CT giáo dục có phân biệt năng lực chung, cốt lõi và năng lực đặc thù đối với từng môn học.
Năng lực chung là “năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của HS”. Các năng lực chung được xác định bao gồm: tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo; thẩm mỹ; thể chất; giao tiếp; hợp tác; tính toán; công nghệ thông tin và truyền thông. Vai trò của môn Ngữ văn đối với việc hình thành năng lực cho HS được nhấn mạnh đối với các năng lực: tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thẩm mỹ, giao tiếp; ngoài ra, năng lực hợp tác cũng cần được quan tâm.
Năng lực đặc thù là “năng lực mà môn học có ưu thế hình thành và phát triển cho HS” (do đặc điểm của môn học đó). Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Trên cơ sở đó, có thể hiểu năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn bao gồm: đọc hiểu và tạo lập văn bản, năng lực CTVH/ năng lực thẩm mỹ và năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên, cả ba năng lực chuyên biệt này đều được hiểu ở mức độ phổ thông và nhấn mạnh các yêu cầu như: tự học, thẩm mĩ, sáng tạo,… 1.
Năng lực cảm thụ văn học CTVH là một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản. Người đọc không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác.7] Cấu trúc của cảm thụ là sự đan xen phức tạp của các yếu tố tri giác, lý giải, tưởng tượng, cảm xúc. Mục đích của cảm thụ là “cảm nhận, phát hiện, khám phá, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương nhằm đào tạo, bồi dưỡng mĩ cảm phong phú, tinh tế cho độc giả. Cảm thụ trong dạy học tác phẩm văn học không chỉ giúp HS khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm mà trên cơ sở cảm xúc, khả năng liên tưởng và huy động vốn biểu tượng của từng cá nhân người đọc sẽ bổ sung những yếu tố, đường nét thành “tác phẩm” mang dấu ấn của riêng mình.
Hiểu một cách đơn giản thì CTVH chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc hiểu và rung động trong quá trình cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật hay một bộ phận của văn bản. Đó là một hình thức của nhận thức thẩm mĩ là một quá trình tích cực vận dụng vốn sống và những năng lực tư duy để lĩnh hội, thưởng thức những cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Năng lực CTVH thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện. Như vậy, năng lực cảm thụ, một biểu hiện quan trọng của năng lực trí tuệ xúc cảm thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân.
Đó là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình. Năng lực trí tuệ xúc cảm, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn học, năng lực CTVH được thể hiện ở những phương diện sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật - Nhận ra được những giá trị thẩm mỹ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn… từ đó cảm nhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm. - Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm, hiểu tác phẩm văn học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương;.
59] Tóm lại: Năng lực CTVH được hiểu là khả năng nắm bắt một cách nhanh nhạy, chính xác các đặc điểm đặc trưng, bản chất của VB về nội dung và nghệ thuật, là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều thầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giá chính xác và sâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách tác giả. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực CTVH Định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới PPDH của CT Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của HS với quan điểm dạy học “lấy HS làm trung tâm” chính là cơ sở để xác định các nội dung đổi mới PPDH. Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học theo dự án,… cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi HS trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy học phân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó hướng dẫn HS biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống. Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của HS trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận,.Vận dụng các PPDH theo đặc thù của môn học và các PPDH chung một cách phù hợp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn.
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới PPDH Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn thì hiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề này của CT và SGK Ngữ văn mới. Cách dạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho HS những cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân.