Luận Văn Thạc Sĩ Về Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ: Hiện Trạng và Hướng Phát Triển

Luận văn thạc sĩ về làng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, phân tích hiện trạng và hướng phát triển.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Việt Nam Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2012

147
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm “làng nghề”

1.1.2. Khái niệm “nghề thủ công truyền thống”

1.1.3. Khái niệm “làng nghề truyền thống”

1.1.4. Khái niệm “tranh dân gian”

1.1.5. Khái niệm “du lịch làng nghề”

1.2. Khái quát làng Đông Hồ

1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

1.2.2. Lịch sử hình thành làng Đông Hồ

1.2.2.1. Lịch sử và tên gọi làng Đông Hồ
1.2.2.2. Lịch sử nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

1.2.3. Di tích lịch sử văn hoá

1.3. Đời sống văn hóa tinh thần làng Đông Hồ

1.3.1. Giai thoại, truyền thuyết về vị thần Thành hoàng làng Đông Hồ

1.3.2. Giai thoại, truyền thuyết về một số nhân vật ở Đông Hồ

1.3.3. Hoạt động lễ hội truyền thống

1.3.4. Phong tục tập quán

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ

2.1. Một số đặc điểm nội dung tranh dân gian Đông Hồ

2.1.1. Về đề tài phong phú

2.1.2. Đặc điểm nội dung tranh dân gian Đông Hồ

2.1.2.1. Tranh Đông Hồ mang nội dung chúc tụng, thể hiện ước mơ tốt đẹp của người lao động
2.1.2.2. Tranh Đông Hồ ca ngợi truyền thống “tôn sư trọng đạo”
2.1.2.3. Tranh Đông Hồ ca ngợi những anh hùng dân tộc, phản ánh cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc
2.1.2.4. Tranh dân gian Đông Hồ mang nội dung phê phán, đả kích những thói hư, tật xấu

2.2. Một số đặc điểm nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ

2.2.1. Màu sắc dân gian

2.2.2. Tính dị bản của tranh dân gian Đông Hồ

2.3. Quy trình kỹ thuật làm tranh dân gian Đông Hồ

2.3.1. Chuẩn bị về nhà xưởng, thiết bị và nguyên liệu

2.3.1.1. Về nhà xưởng
2.3.1.2. Về thiết bị
2.3.1.3. Về nguyên liệu in tranh

2.3.2. Kĩ thuật làm tranh dân gian Đông Hồ

2.3.2.1. Khâu vẽ mẫu - hay sáng tác mẫu tranh

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ ĐẾN NĂM 2020

3.1. Thực trạng biến đổi của làng tranh dân gian Đông Hồ

3.1.1. Hoạt động sản xuất và tiêu thụ tranh dân gian Đông Hồ

3.1.1.1. Lao động và phân công lao động
3.1.1.2. Hình thức tổ chức sản xuất
3.1.1.3. Sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm

3.1.2. Những biến đổi của tranh dân gian Đông Hồ

3.1.2.1. Thay đổi về hình thức nghệ thuật
3.1.2.2. Thay đổi về nội dung
3.1.2.3. Thực trạng nghề làm hàng mã phát triển “phi mã”, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ bị mai một và thất truyền
3.1.2.4. Thực trạng môi trường sống bị ảnh hưởng từ nghề nghiệp
3.1.2.5. Thực trạng khai thác du lịch tại làng nghề Đông Hồ

3.2. Một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ đến năm 2020

3.2.1. Phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại làng tranh dân gian Đông Hồ

3.2.2. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ về giá trị văn hóa làng nghề truyền thống của dân tộc

3.2.3. Nhóm giải pháp cho nghệ nhân và đào tạo họa sĩ, chuyên gia trong lĩnh vực vẽ tranh, thẩm định và quảng bá tranh Đông Hồ

3.2.3.1. Giải pháp cho nghệ nhân tranh dân gian Đông Hồ
3.2.3.2. Giải pháp trong việc đào tạo họa sĩ, chuyên gia trong lĩnh vực vẽ tranh, thẩm định và quảng bá tranh Đông Hồ

3.2.4. Nhóm giải pháp quảng bá tranh dân gian Đông Hồ ở trong và ngoài nước

3.2.4.1. Tăng cường quảng bá hình ảnh tranh dân gian Đông Hồ và hình ảnh của làng tranh đến với bạn bè trong và ngoài nước
3.2.4.2. Hợp tác quốc tế về nhiều mặt
3.2.4.3. Mở rộng và phát triển đồng bộ các loại thị trường cho làng nghề Đông Hồ

3.2.5. Giải pháp tạo vốn và xuất khẩu tranh cho Trung tâm giao lưu văn hóa dân gian tranh Đông Hồ và làng tranh Đông Hồ

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ Di Sản Văn Hóa Quý Giá

Làng tranh dân gian Đông Hồ, nằm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, là một trong những trung tâm sản xuất tranh dân gian nổi tiếng nhất Việt Nam. Với lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm, tranh Đông Hồ không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng văn hóa của người dân nơi đây. Tranh Đông Hồ mang trong mình những giá trị văn hóa, tinh thần và nghệ thuật đặc sắc, phản ánh đời sống, tâm tư của người dân lao động. Tuy nhiên, hiện nay, làng tranh đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn và phát triển.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ

Làng Đông Hồ có lịch sử hình thành từ thế kỷ 15, với nghề làm tranh khắc gỗ. Tranh Đông Hồ nổi tiếng với các đề tài phong phú, từ phong tục tập quán đến các sự kiện lịch sử. Nghề làm tranh đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân nơi đây.

1.2. Đặc Điểm Nghệ Thuật Của Tranh Dân Gian Đông Hồ

Tranh Đông Hồ nổi bật với màu sắc tươi sáng, hình ảnh sinh động và nội dung phong phú. Các bức tranh thường mang ý nghĩa chúc tụng, thể hiện ước mơ và khát vọng của người dân. Nghệ thuật in tranh bằng kỹ thuật khắc gỗ đã tạo nên những sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

II. Thách Thức Hiện Tại Đối Với Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ

Làng tranh Đông Hồ hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và thị trường đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ tranh dân gian. Nhiều nghệ nhân đã rời bỏ nghề truyền thống để tìm kiếm cơ hội khác, dẫn đến nguy cơ mai một di sản văn hóa quý giá này. Bên cạnh đó, môi trường sống và điều kiện sản xuất cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

2.1. Nguy Cơ Mai Một Nghề Làm Tranh

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một do sự thay đổi trong nhu cầu thị trường. Nhiều nghệ nhân không còn đủ điều kiện để duy trì nghề, dẫn đến việc giảm số lượng sản phẩm và sự biến mất của các kỹ thuật truyền thống.

2.2. Ảnh Hưởng Của Du Lịch Đến Nghề Tranh

Mặc dù du lịch văn hóa có thể mang lại cơ hội phát triển cho làng tranh, nhưng cũng tạo ra áp lực lớn lên môi trường và văn hóa địa phương. Việc khai thác du lịch không hợp lý có thể dẫn đến sự thương mại hóa và làm mất đi giá trị văn hóa của tranh dân gian.

III. Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Triển Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ

Để bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc phát triển mô hình du lịch cộng đồng, kết hợp với giáo dục và nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa làng nghề là rất cần thiết. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức xã hội để duy trì nghề truyền thống.

3.1. Phát Triển Mô Hình Du Lịch Cộng Đồng

Mô hình du lịch cộng đồng có thể giúp tăng cường sự quan tâm và tiêu thụ sản phẩm tranh Đông Hồ. Việc tổ chức các tour du lịch trải nghiệm nghề làm tranh sẽ thu hút du khách và tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương.

3.2. Tuyên Truyền Giá Trị Văn Hóa Làng Nghề

Giáo dục và tuyên truyền về giá trị văn hóa của tranh dân gian Đông Hồ là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục trong trường học và cộng đồng sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng di sản văn hóa của cha ông.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ

Nghiên cứu về làng tranh dân gian Đông Hồ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa mà còn cung cấp những thông tin quý giá cho việc phát triển bền vững. Các kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chính sách bảo tồn và phát triển làng nghề, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị di sản văn hóa.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Nghề Làm Tranh

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghề làm tranh dân gian Đông Hồ có vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa của địa phương. Việc bảo tồn nghề này không chỉ là bảo tồn di sản văn hóa mà còn là bảo vệ sinh kế cho người dân.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Trong Chính Sách

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách hỗ trợ nghề làm tranh, từ việc đào tạo nghệ nhân đến việc quảng bá sản phẩm tranh Đông Hồ ra thị trường trong và ngoài nước.

V. Kết Luận Tương Lai Của Làng Tranh Dân Gian Đông Hồ

Tương lai của làng tranh dân gian Đông Hồ phụ thuộc vào sự nỗ lực bảo tồn và phát triển nghề truyền thống. Cần có sự hợp tác giữa các bên liên quan, từ chính quyền, cộng đồng đến các tổ chức xã hội để tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của tranh Đông Hồ không chỉ là trách nhiệm của người dân địa phương mà còn là của toàn xã hội.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn Di Sản

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một cộng đồng mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Việc gìn giữ nghề làm tranh sẽ góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Cho Làng Tranh

Hướng đi tương lai cho làng tranh Đông Hồ cần phải kết hợp giữa bảo tồn và phát triển. Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất và quảng bá sản phẩm sẽ giúp nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của tranh Đông Hồ trên thị trường.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận văn nêu lên một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn và điểm qua các nét cơ bản nhất về vị trí địa lý, điều kiện dân cư, xã hội, cũng như lịch sử làng nghề, lịch sử nghề tranh và một số nét văn hóa dân gian, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng nghề Đông Hồ. Chƣơng 2: Tranh dân gian Đông Hồ: 30 trang Nội dung chính của chương này nêu khái quát một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và quy trình làm tranh dân gian Đông Hồ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Thực trạng biến đổi và định hƣớng phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ đến năm 2020: 46 trang Chương 3 gồm hai phần, phần 1 nêu lên một số thực trạng của nghề làm tranh và làng nghề Đông Hồ; phần 2, luận văn đi sâu phân tích một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ 1.

Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm “làng nghề” Khái niệm làng nghề thường được xuất hiện nhiều trên các sách báo trung ương và địa phương. Có nhiều quan điểm và nhiều cách định nghĩa khác nhau về làng nghề cả về ý tứ và câu chữ. Tác giả Bùi Viết Vượng cho rằng “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy, không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.

Khi nói đến một làng nghề thủ công truyền thống, ta không chỉ chú ý các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt, trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật” [66; tr 13]. Theo tác giả Vũ Từ Trang, “…làng nghề, phường nghề là nơi giữ nghề thủ công lâu đời. Nghề thủ công đó, đã thu hút hầu hết lao động chính ở vùng đó tham gia và tạo ra giá trị kinh tế chính cho khu vực nơi đó” [58; tr 11]. Một định nghĩa khác, “làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng dân cư, chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam.

Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam” [76]. Định nghĩa này đã nêu lên một điểm mới, khá khác biệt với các định nghĩa khác ở chỗ, làng nghề không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam. Điều này đúng với chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về phát triển du lịch làng nghề truyền thống đó là: mỗi làng nghề một sản phẩm. Sản phẩm ở đây chính là sản phẩm du lịch.

Bởi trong hiện tại và tương lai, làng nghề truyền thống cần đẩy mạnh việc tạo ra những sản phẩm thủ công thuần 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt nhất, đặc trưng nhất để tạo ra lợi thế cho sự phát triển du lịch làng nghề bền vững, cũng như vực dậy một tiềm năng của du lịch Việt Nam. Nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc đã tổng hợp ba quan niệm về làng nghề [26; tr 11,12]: Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu.

Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác. Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề.

Từ ba quan niệm trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghề đều liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa. Trước đây khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp. Ngày nay, các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được xếp vào các làng nghề.

Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng chỉ có một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế có trong làng. Nhóm tác giả từ đó đã tóm lược bằng một định nghĩa, mà chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [26; tr 13]. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ- CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” [52] đã giải thích các từ ngữ, trong đó có khái niệm “Làng nghề”: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.2 Khái niệm “nghề thủ công truyền thống” Trước đây, có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề thủ công truyền thống ở nước ta như: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ, ngành tiểu thủ công nghiệp…Hiện nay, ngành nghề thủ công truyền thống được gọi chung là “khối sản xuất ngoài quốc doanh”.

Thuật ngữ ngoài quốc doanh trước kia được hiểu là những hợp tác xã (HTX) tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và vận tải…. Nhưng ngày nay, ngoài các HTX, còn có các hộ sản xuất cá thể, tiểu chủ, những doanh nghiệp tư nhân sản xuất và kinh doanh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thủ công cổ truyền, các ngành nghề mới xuất hiện. Như vậy, nghề thủ công là nghề chủ yếu sản xuất bằng tay, hay công nghệ truyền thống, với con mắt, bàn tay và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân. Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nói chung [66; tr 12].

Theo các tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc, “ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống” [26; tr 17]. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, mục giải thích từ ngữ ghi rõ: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền [52].

Chúng tôi đồng tình với khái niệm này.3 Khái niệm “làng nghề truyền thống” Có ba quan niệm khác nhau về làng nghề truyền thống [26; tr13]. Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ. Quan niệm thứ ba: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền.

Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên, nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc đã nêu ra định nghĩa: “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm.

Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa trên thị trường” [26; tr 15]. Chúng tôi đồng tình với định nghĩa này về làng nghề truyền thống.4 Khái niệm “tranh dân gian” Có nhiều cách hiểu khác nhau về tranh dân gian Việt Nam.

Theo định nghĩa của vi.org [76]: Tranh dân gian Việt Nam là một loại hình mỹ thuật cổ truyền của dân gian Việt Nam… Tranh ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã. Tranh dân gian cũng phản ánh những gì gần gũi, thân thiết với người dân hay cả những điều thiêng liêng cao quý trong các tranh thờ. Có cách hiểu khác khá đơn giản: tranh dân gian là loại tranh được lưu hành rộng rãi trong dân gian…[77].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ