Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 500 năm hình thành với hơn 20 thế hệ nghệ nhân nối tiếp, dòng tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh từng là một trong 3 trung tâm sản xuất tranh dân gian lớn nhất Việt Nam. Trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, diện mạo làng nghề đã biến đổi sâu sắc. Từ một làng nghề truyền thống với 100% trong số 17 dòng họ đều tham gia làm tranh, đến năm 2012 toàn làng chỉ còn lại 2 hộ gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam bám trụ giữ nghề, trong khi hơn 90% số hộ đã chuyển dịch sang sản xuất hàng mã thương mại.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mối quan hệ tương tác giữa không gian văn hóa làng xã và sự vận động của nghề thủ công cổ truyền. Mục tiêu cụ thể là khảo sát toàn diện quá trình hình thành, nhận diện các giá trị nghệ thuật đặc sắc, đánh giá thực trạng biến đổi nghề làm tranh từ năm 1985 đến năm 2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề đến năm 2020.

Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại xã Song Hồ với tổng diện tích tự nhiên 335,85 ha và 4.896 nhân khẩu, nằm trong vùng di tích Luy Lâu cổ kính bên dòng sông Đuống. Về mặt khoa học và thực tiễn, đề tài cung cấp hệ thống luận cứ liên ngành hỗ trợ cơ quan quản lý hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, thúc đẩy mô hình du lịch cộng đồng với kỳ vọng đón từ 50.000 đến 80.000 lượt khách mỗi năm, đồng thời nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết địa văn hóa và lý thuyết vùng văn hóa để xem xét làng Đông Hồ trong tổng thể không gian văn hóa Kinh Bắc. Đề tài tích hợp mô hình biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống dưới tác động của công nghiệp hóa và kinh tế thị trường. Khung lý luận xây dựng dựa trên 5 khái niệm cốt lõi theo tinh thần Thông tư số 116/2006/TT-BNN và các công trình văn hóa học chuyên sâu: làng nghề, nghề thủ công truyền thống, làng nghề truyền thống, tranh dân gian và du lịch làng nghề.

Làng nghề truyền thống được xác định là cộng đồng dân cư tách khỏi thuần nông, nơi có quy trình sản xuất thủ công tinh xảo duy trì qua nhiều thế hệ cha truyền con nối. Luận văn phân tích cấu trúc 6 thể loại tranh mộc bản chính gồm tranh thờ cúng, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt, tranh phong cảnh và tranh truyện. Hệ thống thể loại này được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với các thiết chế văn hóa đình, đền, nghè và mô hình 5 giáp cổ truyền của làng Đông Mại xưa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu thứ cấp, điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hơn 70 công trình địa chí, sách chuyên khảo thời Lê, thời Nguyễn và các tài liệu nghiên cứu quốc tế từ năm 1960. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua các đợt khảo sát thực địa giai đoạn 2008 - 2012, tiêu biểu là đợt quan sát liên tục 3 ngày 3 đêm tại Lễ hội rước nước đình làng Đông Hồ năm 2009.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 35 đối tượng chuyên sâu, bao gồm 2 nghệ nhân nắm giữ bí quyết nghề, 15 thợ thủ công cao tuổi thuộc các dòng họ lâu đời như họ Nguyễn Đăng, họ Lê, họ Trần, cùng 18 hộ dân đang sản xuất hàng mã và kinh doanh dịch vụ tại 4 thôn Đông Khê, Đạo Tú, Tú Tháp, Lạc Hoài. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích nhằm tiếp cận trực tiếp các chủ thể nắm giữ tri thức bản địa về kỹ thuật in ván mộc bản và chế tác màu tự nhiên. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp tổng hợp logic là do đối tượng nghiên cứu mang tính đặc thù về di sản văn hóa phi vật thể, đòi hỏi việc giải mã biểu tượng mỹ thuật và tâm thức dân gian mà các mô hình định lượng đơn thuần không thể bao quát toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nghề nghiệp của làng biến đổi mạnh mẽ: Trước năm 1945, toàn bộ 81 hộ gia đình với 328 nhân khẩu thuộc 17 dòng họ đều tham gia làm tranh mộc bản. Đến giai đoạn 2000 - 2012, tỷ lệ hộ giữ nghề in tranh giảm hơn 97%, chỉ còn khoảng 1,1% tương đương 2 trên tổng số 183 hộ của làng Đông Hồ cũ, trong khi trên 95% hộ dân đã chuyển hẳn sang sản xuất vàng mã.

Thứ hai, không gian giao thương truyền thống bị thu hẹp: Chợ tranh đình làng Đông Hồ từng duy trì định kỳ 5 phiên trong tháng Chạp âm lịch vào các ngày 6, 11, 16, 21 và 26, thu hút hàng vạn khách buôn toàn miền Bắc, nay đã hoàn toàn dừng hoạt động và bị thay thế bởi các xưởng sản xuất vàng mã hoạt động phân tán quanh năm.

Thứ ba, sức ép quỹ đất nông nghiệp thúc đẩy phát triển nghề phụ: Diện tích đất canh tác nông nghiệp của thôn Đông Hồ chỉ đạt 224.000 m2 trên 748 nhân khẩu, tương ứng bình quân chưa đầy 300 m2 mỗi người, thấp hơn mức 1 sào Bắc Bộ 360 m2. Tỷ lệ đất canh tác hạn hẹp buộc hơn 80% lực lượng lao động phải dựa hoàn toàn vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp để duy trì sinh kế.

Thứ tư, suy thoái bản khắc gỗ và biến đổi chất liệu: Khoảng 85% bản khắc gỗ cổ có niên đại từ thế kỷ 18 và thế kỷ 19 đã bị thất lạc hoặc hư hỏng sau các biến cố lịch sử năm 1947, dẫn tới sự xuất hiện của các loại tranh hàng sử dụng phẩm màu hóa học và giấy báo công nghiệp thay thế cho giấy điệp quét vỏ sò truyền thống.

Thảo luận kết quả

Sự suy thoái của dòng tranh dân gian phản ánh quy luật đào thải khắc nghiệt của kinh tế thị trường khi thị hiếu thẩm mỹ của xã hội hiện đại thay đổi. Nghề làm vàng mã mang lại mức thu nhập bình quân cao gấp 3 đến 5 lần so với làm tranh, đồng thời có chu kỳ quay vòng vốn nhanh nhờ nhu cầu tâm linh diễn ra đều đặn suốt 12 tháng. So sánh với các nghiên cứu tại làng gốm Bát Tràng hay làng thêu Quất Động, Đông Hồ đối mặt với áp lực chuyển đổi sinh kế gay gắt hơn do tranh Tết mang tính mùa vụ quá ngắn.

Dữ liệu chuyển dịch có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột thể hiện sự sụt giảm số hộ làm tranh từ 81 hộ thời kỳ trước năm 1945 xuống còn 2 hộ năm 2012, kết hợp bảng ma trận so sánh 6 dòng tranh về chi phí nguyên liệu và doanh thu. Mặt khác, việc sản xuất hàng mã quy mô lớn sử dụng hóa chất nhuộm màu và keo dán đã làm các chỉ số ô nhiễm nguồn nước như COD và BOD5 vượt tiêu chuẩn xả thải cho phép CMax, đe dọa trực tiếp môi trường sống của hơn 4.800 người dân trong xã Song Hồ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch phát triển mô hình du lịch di sản cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Thuận Thành chủ trì phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh xây dựng tuyến du lịch kết nối Đông Hồ với Chùa Dâu và Chùa Bút Tháp trong giai đoạn 2013 - 2018, đặt mục tiêu thu hút 50.000 đến 80.000 lượt khách mỗi năm, đưa tỷ trọng doanh thu dịch vụ du lịch đạt 25% tổng thu nhập làng nghề.

Thứ hai, thiết lập chính sách bảo trợ và tôn vinh nghệ nhân: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành cơ chế trợ cấp sinh hoạt hàng tháng từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng cho các nghệ nhân cao tuổi, đồng thời cấp ngân sách hỗ trợ 100% kinh phí bảo quản và phục chế hơn 200 bản khắc gỗ cổ trước năm 2016.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới đào tạo nghề cho thế hệ trẻ: Trung tâm giao lưu văn hóa dân gian tranh Đông Hồ liên kết các trường mỹ thuật tổ chức các lớp truyền dạy kỹ thuật khắc ván mộc bản và pha chế màu tự nhiên cho ít nhất 30 học viên kế cận mỗi năm trong lộ trình từ 2014 đến 2020.

Thứ tư, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Bộ Ngoại giao triển khai các chương trình quảng bá di sản tại 15 quốc gia trọng điểm, cung cấp gói tín dụng ưu đãi từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng mỗi cơ sở sản xuất, phấn đấu nâng kim ngạch xuất khẩu tranh sang Pháp, Mỹ và Nhật Bản tăng trưởng 15% đến 20% mỗi năm đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, các nhà nghiên cứu văn hóa học, mỹ thuật cổ truyền và học viên cao học ngành Việt Nam học: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu điền dã phong phú với hơn 70 tài liệu trích dẫn, hệ thống hóa lịch sử 5 thế kỷ và phân tích chi tiết giá trị biểu tượng của 6 dòng tranh mộc bản.

Nhóm thứ hai, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý văn hóa địa phương: Công trình là căn cứ thực tiễn quan trọng giúp xây dựng hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và lập đề án phát triển kinh tế làng nghề đến năm 2020.

Nhóm thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển du lịch: Tài liệu cung cấp dữ liệu nền tảng để thiết kế các tour du lịch trải nghiệm làng nghề homestay, kết nối 4 điểm di tích lịch sử trọng điểm dọc lưu vực sông Đuống.

Nhóm thứ tư, các nghệ nhân, nhà thiết kế đồ họa và họa sĩ ứng dụng: Luận văn phân tích toàn diện quy trình chế tác thủ công từ 4 gam màu tự nhiên và kỹ thuật in chồng màu mộc bản, mở ra nguồn cảm hứng sáng tạo cho các dự án số hóa di sản và sản phẩm mỹ thuật đương đại.

Câu hỏi thường gặp

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ chính thức xuất hiện từ thời kỳ nào?

Căn cứ gia phả dòng họ Nguyễn Đăng với 20 đời làm nghề, bài thơ Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải thế kỷ 16 và văn bia chùa Đô Hồ khắc năm 1680, các nhà khoa học xác định nghề in tranh Đông Hồ ra đời khoảng cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 dưới thời Lê Sơ hoặc thời Mạc.

Tại sao người dân làng Đông Hồ lại chuyển sang làm hàng mã thay vì in tranh?

Nguyên nhân bắt nguồn từ áp lực kinh tế sau năm 1985 khi thị trường tranh thu hẹp. Nghề làm hàng mã tận dụng tốt kỹ năng dán bồi giấy truyền thống, mang lại thu nhập cao gấp 3 đến 5 lần và có thị trường tiêu thụ đều đặn quanh năm, khiến hơn 95% hộ dân chuyển đổi nghề.

Màu sắc của tranh dân gian Đông Hồ được tạo ra từ những nguyên liệu tự nhiên nào?

Tranh Đông Hồ sử dụng 4 màu tự nhiên thuần khiết gồm màu đen từ tro than lá tre đốt tại bãi Mả Mực, màu vàng từ hoa hòe hoặc hạt dành dành, màu đỏ từ sỏi son tán mịn, và màu trắng óng ánh từ vỏ sò điệp nghiền nhỏ trộn với hồ nếp quết trên giấy dướng.

Chợ tranh đình làng Đông Hồ xưa kia được tổ chức vào thời điểm nào?

Chợ tranh đình làng Đông Hồ chỉ họp duy nhất vào tháng Chạp âm lịch hàng năm với 5 phiên chính vào các ngày 6, 11, 16, 21 và 26. Trong các phiên chợ này, hàng vạn bức tranh rực rỡ được bày bán khắp sân đình, thu hút thương lái khắp đồng bằng Bắc Bộ về mua buôn.

Luận văn đề xuất những giải pháp đột phá nào để bảo tồn làng nghề đến năm 2020?

Nghiên cứu đề xuất 5 giải pháp trọng tâm gồm phát triển du lịch trải nghiệm cộng đồng, cấp trợ cấp từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng cho nghệ nhân, đào tạo 30 thợ trẻ mỗi năm, xúc tiến thương mại tại 15 quốc gia và cung cấp vốn vay ưu đãi phục hồi thị trường xuất khẩu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện lịch sử hơn 500 năm và cấu trúc văn hóa của làng tranh Đông Hồ gắn với 17 dòng họ cổ truyền.
  • Làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật độc bản của 6 thể loại tranh mộc bản in trên nền giấy điệp với 4 gam màu tự nhiên thuần khiết.
  • Đánh giá chính xác thực trạng suy thoái khi hơn 95% hộ dân chuyển đổi sang làm vàng mã và chỉ còn 2 gia đình nghệ nhân bám trụ giữ nghề.
  • Nhận diện rõ nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và sự đứt gãy không gian sinh hoạt văn hóa chợ tranh truyền thống.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp bảo tồn di sản với phát triển du lịch làng nghề bền vững đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng cơ sở khoa học liên ngành giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và bài toán phát triển kinh tế nông thôn. Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, việc khẩn trương hoàn thiện hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận nghề làm tranh dân gian Đông Hồ là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp là nhiệm vụ mang tính sống còn. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội cần chung tay triển khai ngay các giải pháp thực thi để dòng tranh mộc bản dân tộc tiếp tục tỏa sáng trong đời sống đương đại.