Chương 1 của luận văn nêu lên một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn và điểm qua các nét cơ bản nhất về vị trí địa lý, điều kiện dân cư, xã hội, cũng như lịch sử làng nghề, lịch sử nghề tranh và một số nét văn hóa dân gian, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng nghề Đông Hồ. Chƣơng 2: Tranh dân gian Đông Hồ: 30 trang Nội dung chính của chương này nêu khái quát một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và quy trình làm tranh dân gian Đông Hồ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Thực trạng biến đổi và định hƣớng phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ đến năm 2020: 46 trang Chương 3 gồm hai phần, phần 1 nêu lên một số thực trạng của nghề làm tranh và làng nghề Đông Hồ; phần 2, luận văn đi sâu phân tích một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm “làng nghề” Khái niệm làng nghề thường được xuất hiện nhiều trên các sách báo trung ương và địa phương. Có nhiều quan điểm và nhiều cách định nghĩa khác nhau về làng nghề cả về ý tứ và câu chữ. Tác giả Bùi Viết Vượng cho rằng “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy, không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.
Khi nói đến một làng nghề thủ công truyền thống, ta không chỉ chú ý các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt, trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật” [66; tr 13]. Theo tác giả Vũ Từ Trang, “…làng nghề, phường nghề là nơi giữ nghề thủ công lâu đời. Nghề thủ công đó, đã thu hút hầu hết lao động chính ở vùng đó tham gia và tạo ra giá trị kinh tế chính cho khu vực nơi đó” [58; tr 11]. Một định nghĩa khác, “làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng dân cư, chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam.
Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam” [76]. Định nghĩa này đã nêu lên một điểm mới, khá khác biệt với các định nghĩa khác ở chỗ, làng nghề không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam. Điều này đúng với chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về phát triển du lịch làng nghề truyền thống đó là: mỗi làng nghề một sản phẩm. Sản phẩm ở đây chính là sản phẩm du lịch.
Bởi trong hiện tại và tương lai, làng nghề truyền thống cần đẩy mạnh việc tạo ra những sản phẩm thủ công thuần 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt nhất, đặc trưng nhất để tạo ra lợi thế cho sự phát triển du lịch làng nghề bền vững, cũng như vực dậy một tiềm năng của du lịch Việt Nam. Nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc đã tổng hợp ba quan niệm về làng nghề [26; tr 11,12]: Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu.
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác. Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề.
Từ ba quan niệm trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghề đều liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa. Trước đây khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp. Ngày nay, các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được xếp vào các làng nghề.
Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng chỉ có một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế có trong làng. Nhóm tác giả từ đó đã tóm lược bằng một định nghĩa, mà chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [26; tr 13]. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ- CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” [52] đã giải thích các từ ngữ, trong đó có khái niệm “Làng nghề”: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.2 Khái niệm “nghề thủ công truyền thống” Trước đây, có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề thủ công truyền thống ở nước ta như: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ, ngành tiểu thủ công nghiệp…Hiện nay, ngành nghề thủ công truyền thống được gọi chung là “khối sản xuất ngoài quốc doanh”.
Thuật ngữ ngoài quốc doanh trước kia được hiểu là những hợp tác xã (HTX) tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và vận tải…. Nhưng ngày nay, ngoài các HTX, còn có các hộ sản xuất cá thể, tiểu chủ, những doanh nghiệp tư nhân sản xuất và kinh doanh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thủ công cổ truyền, các ngành nghề mới xuất hiện. Như vậy, nghề thủ công là nghề chủ yếu sản xuất bằng tay, hay công nghệ truyền thống, với con mắt, bàn tay và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân. Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nói chung [66; tr 12].
Theo các tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc, “ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống” [26; tr 17]. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, mục giải thích từ ngữ ghi rõ: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền [52].
Chúng tôi đồng tình với khái niệm này.3 Khái niệm “làng nghề truyền thống” Có ba quan niệm khác nhau về làng nghề truyền thống [26; tr13]. Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ. Quan niệm thứ ba: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền.
Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên, nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS. TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc đã nêu ra định nghĩa: “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm.
Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa trên thị trường” [26; tr 15]. Chúng tôi đồng tình với định nghĩa này về làng nghề truyền thống.4 Khái niệm “tranh dân gian” Có nhiều cách hiểu khác nhau về tranh dân gian Việt Nam.
Theo định nghĩa của vi.org [76]: Tranh dân gian Việt Nam là một loại hình mỹ thuật cổ truyền của dân gian Việt Nam… Tranh ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã. Tranh dân gian cũng phản ánh những gì gần gũi, thân thiết với người dân hay cả những điều thiêng liêng cao quý trong các tranh thờ. Có cách hiểu khác khá đơn giản: tranh dân gian là loại tranh được lưu hành rộng rãi trong dân gian…[77].