CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. Khái niệm về phát triển - Khái niệm về phát triển Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới, thay thế cái cũ.
- Khái niệm về phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. Về căn bản, khái niệm tăng trưởng dùng để chỉ quá trình biến đổi theo chiều hướng tăng lên đơn thuần về lượng của sự vật; nó không phản ánh quá trình biến đổi theo chiều hướng nâng cao về chất của sự vật. Đây là điểm khác nhau căn bản giữa khái niệm phát triển và khái niệm tăng trưởng.
Mặc dù có sự khác nhau giữa tăng trưởng và phát triển nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ tất yếu với nhau: Tăng trưởng là điều kiện của phát triển và ngược lại, phát triển lại là điều kiện tạo ra những sự tăng trửởng mới, thường là với tốc độ và quy mô lớn hơn. Đó là mối quan hệ có tính quy luật của sự phát triển. - Phát triển kinh tế bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội. Khái niệm phát triển kinh tế bao hàm các vấn đề cơ bản như sau: Thứ nhất là mức độ gia tăng mở rộng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng mức sản xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định.
5 Thứ hai là mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân. Mức độ tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càng cao thể hiện mức phát triển càng cao. Thứ 3 là sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của quốc gia.
Theo ý kiến chủ quan của tác giả, phát triển làng nghề hay phát triển làng nghề truyền thống là phát triển cả về lượng và chất, đồng thời phát triển bền vững, gìn giữ yếu tố truyền thống. Phát triển về lượng: quy mô sản xuất, cơ cấu hoạt động, số lượng các cơ sở, số lượng lao động có việc làm của làng nghề…; Phát triển về chất: hiệu quả sản xuất kinh doanh, áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật; trình độ tay nghề và đảm bảo môi trường làng nghề. Một số quan niệm về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, có nhiều tên gọi khác nhau: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề phụ… xét về nguồn gốc ra đời, các tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp của nước ta là: Thông qua con đường hợp tác hóa, bằng cách tổ chức những người thợ thủ công cá thể vào làm ăn tập thể hình thành các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các xí nghiệp tư bản tư doanh. Ngày nay, ngoài các hợp tác xã còn có các hộ sản xuất cá thể, tiểu chủ, những doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và kinh doanh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công cổ truyền, các ngành nghề mới xuất hiện.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là ngành nghề thủ công truyền thống được quan tâm phục hồi, tạo điều kiện phát triển. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ngày nay được trang bị máy móc để cơ khí hoá một số khâu trong quá trình sản xuất. Sự phát triển này đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế xoá bỏ đặc điểm thuần nông, dần dần hình thành và mở mang hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của đời sống dân sinh. 6 Thông thường hoạt động của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp lúc đầu phát sinh từ một số gia đình, dần dần mở rộng ra nhiều hộ gia đình.
Số hộ và số lao động là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ngày càng nhiều, đạt từ 50% trở lên và cũng tạo ra trên 50% thu nhập so với tổng thu nhập trên địa bàn của làng. Sản xuất của Làng nghề tiểu thủ công nghiệp được sử dụng những công nghệ truyền thống, kết hợp với công nghệ hiện đại. Như vậy, có thể thấy ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là những ngành có một hoặc một số nghề tiểu thủ công nghiệp được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Số hộ lao động và thu nhập phát triển trên 50% trở lên so với tổng số hộ lao động cũng như giá trị thu nhập của thôn (làng).
Phương pháp sản xuất đã được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất. Quan niệm về nghề truyền thống Có nhiều quan niệm về nghề truyền thống như sau: - Nghề truyền thống là một hiện tượng kinh tế văn hóa đặc sắc ở Việt Nam. Nghề truyền thống được lưu truyền từ đời này qua đời khác (truyền nghề), lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc kết kinh nghiệm. - Nghề truyền thống thường được lưu giữ trong một gia đình, một dòng họ, một làng, một vùng cho nên mới nói đất có nghề.
- Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. - Các ngành nghề thủ công truyền thống ở nước ta được phân chia thành năm nhóm như sau: Mặt hàng Thủ công mỹ nghệ như: Sơn mài, khảm trai. Mặt hàng công cụ sản xuất như: Sản xuất liềm, hái. Mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: Dao, kéo.
Mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như: Nề, mộc, sản xuất vật liệu xây dựng. Mặt hàng được chế biến từ lương thực thực phẩm như: Bánh cuốn, rượu. 7 - Theo quy định tại Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thì nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của Làng nghề. Quan niệm về Làng nghề * Quan niệm về Làng nghề Làng xã Việt Nam được hình thành và phát triển rất lâu đời, thường được gắn chặt với sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Ngay từ buổi ban đầu dựng nước, những làng xóm định canh đã hình thành, dựa trên cơ sở của công xã nông thôn. Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa giới nhất định. Cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và dần dần có một bộ phận dân cư sống bằng cách làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Bên cạnh những người chuyên làm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề phụ.
Quá trình phát triển của Làng nghề, lúc đầu chỉ xuất hiện ở một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng. Trải qua một thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những Làng nghề được lưu giữ, có những Làng nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những Làng nghề mới ra đời. Trong đó có những Làng nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động xã hội khá cao. Thuật ngữ Làng nghề từ trước tới nay đã được đề cập khá nhiều trong các sách, báo với nội dung rộng hẹp khác nhau.
Theo tìm hiểu của tác giả, thì có những quan niệm như sau: Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng “Làng nghề là làng mà tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác (đan lát.) song 8 đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có Phường, có ông Trùm, ông Phó cả. có quy trình công nghệ nhất định, dân cư sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công”. Quan niệm này phần nhiều chỉ đề cập đến các làng nghề truyền thống, tồn tại lâu dài trong lịch sử, còn các làng nghề mới hình thành chưa được đề cập đến. (4) Tác giả Mai Thế Hởn quan niệm “Làng nghề là làng ở nông thôn, có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp để sản xuất độc lập.
Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của làng”. (5) Có ý kiến cho rằng, Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối lên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.