mở đầu, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA ÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Những vấn đề chung về nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề 1. Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Hà Nội * Làng nghề: Theo quan điểm của Chính phủ và một số bộ, ngành liên quan khái niệm về nghề và các loại hình làng nghề như sau: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư ấp, thôn, bản làng, buôn, phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Để được công nhận làng nghề phải đạt được các tiêu chí: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. * Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1 nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN. Đối với những làng chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổn định nhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư số 116/2006/TT-BNN thì cũng được công nhận làng nghề truyền thống.
Để được công nhận làng nghề truyền thống, các làng nghề phải đạt được những tiêu chuẩn: (1) Về thời gian: Là làng có nghề được hình thành trên 50 năm tính đến ngày làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống; (2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng Luan van 11 chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng; (3) Về sử dụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; (4) Bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định hiện hành; (5) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Thành phố và địa phương; (6) Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hoá dân tộc, phải gắn với tên tuổi của làng; (7) Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn của môi trường theo quy định tại điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường. * Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển. * Nghề truyền thống: Là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra sản phẩm độc đáo có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ 50 năm tính đến thời điểm công nhận; (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; (3) Nghề gắn với tên tuổi của 1 hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề.
* Làng có nghề: Là làng được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện thuận lợi để phát triển. Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên. Với tiêu chí như trên, đến nay Thành phố Hà Nội đã công nhận 277 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề chiếm 20,52% tổng số làng có nghề của Thành phố, trong đó có 244 làng nghề truyền thống. Huyện Thanh Oai có 51 làng, Luan van 12 Thường Tín có 44 làng, Phú Xuyên 39 làng, Chương Mỹ 33 làng, Ứng Hoà 20 làng, Ba Vì 14 làng, Quốc Oai 15 làng, Hoài Đức 12 làng, quận Hà Đông 6 làng, Phúc Thọ 5 làng, Gia Lâm 5 làng, thị xã Sơn Tây 2 làng, Sóc Sơn 2 làng, Từ Liêm 2 làng, Thanh Trì 2 làng, quận Long Biên 1 làng và Mê Linh 1 làng.
Phân theo ngành nghề gồm: Ngành mây tre đan có 83 làng, chiếm tới 30% số làng nghề; ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm 44 làng, chiếm 15,88%; nghề thêu ren 28 làng; nghề dệt may 25 làng; nghề chế biến lâm sản 23 làng; nghề nón mũ lá 20 làng; nghề cơ kim khí 13 làng; nghề sơn mài - khảm trai 11 làng; nghề da giầy, khâu bóng 8 làng; nghề chạm điêu khắc 6 làng; nghề gốm sứ 3 làng; nghề đan tơ lưới 4 làng; nghề sinh vật cảnh 2 làng; nghề dát vàng bạc quý 1 làng và nghề khác 6 làng. Nghề có nhiều làng nghề nhất là: ngành nghề mây tre giang đan có 83 làng, trong đó huyện Chương Mỹ 29 làng, Phú Xuyên 11 làng, Quốc Oai 11 làng, Ứng Hoà 11 làng, Thanh Oai 8 làng. Ít nhất là ngành dát vàng, bạc quý (Gia Lâm) với 01 làng, rắn Lệ Mật (Long Biên) 01 làng. Quy mô làng nghề ngày càng phát triển, số hộ tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm dần.
Cơ cấu lao động ở nông thôn ngoại thành chuyển dịch nhanh sang làm công nghiệp và dịch vụ. Các huyện có nhiều hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là: Thanh Oai, Chương Mỹ, Hoài Đức, Thường Tín từ 13. Một số huyện có số hộ tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp thấp hơn như Từ Liêm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Đông Anh, Mê Linh, thị xã Sơn Tây từ 500 - 700 hộ. * Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội Thứ nhất, tạo việc làm cho người lao động.
Các cơ sở sản xuất làng nghề từ các hộ gia đình đến các thành phần kinh tế trong làng nghề đã thu hút một số lượng lớn lao động trong sản xuất phi nông nghiệp, hạn chế số lao động di dời nông thôn ra thành thị tìm việc Luan van 13 làm. Ngành nghề đã thu hút từ 30 đến 70% số hộ và từ 50 đến 90% số lao động tham gia sản xuất nghề với trên 300.000 lao động thường xuyên. Ngoài ra còn thu hút hàng nghìn lao động nơi khác đến làm thuê như nghề gốm sứ Bát Tràng (Gia Lâm), làng dệt kim La Phù (Hoài Đức), đan cỏ tế xã Phú Túc, khảm trai xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên), Vân Hà, Liên Hà (Đông Anh), Liên Trung (Đan Phượng). Sự phát triển làng nghề kéo theo dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, chuyên chở, kinh doanh hàng hoá, phục vụ ăn uống cho các làng nghề tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.
Cơ cấu lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã chiếm từ 75 đến 85% trong tổng số lao động, lao động thuần nông chỉ còn từ 15 đến 25%. Ngoài ra các làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho các lao động dôi dư trong quá trình đô thị hoá, từ đó đã góp phần phân công lại lực lượng lao động ở nông thôn. Thứ hai, góp phần tăng thu nhập, hạn chế tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở nông thôn. Nghề, làng nghề đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và khả năng tích luỹ của các hộ khu vực ngoại thành Thành phố.
Qua khảo sát ở các làng nghề cho thấy, thu nhập bình quân của các hộ sản xuất nghề là 24 triệu đồng/người/năm, gấp 1,3 lần so với thu nhập bình quân của cả làng và gấp 4 lần so với thu nhập của các hộ thuần nông. Đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ở các làng nghề thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo của các hộ thuần nông. Số hộ nghèo có mức thu nhập dưới 320.000 đồng/người/tháng đã giảm từ 46. Thứ ba, hạn chế di dân tự do từ ngoại thành vào trung tâm Thành phố.
Quá trình phát triển kinh tế ở Thủ đô nhất là việc đô thị hoá gây sức ép về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân ngoại thành đi tìm việc Luan van 14 làm ở trung tâm Thành phố. Quá trình đó đã gây áp lực đối với các điều kiện dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở Thành phố, gây khó khăn quản lý trật tự xã hội. Vì vậy, sự phát triển nghề, làng nghề hạn chế đáng kể hiện tượng di dân tự do từ ngoại thành vào trung tâm Thành phố.350 làng có nghề ở ngoại thành, người nông dân có thu nhập ổn định gắn bó với làng quê, đồng thời thu hút lao động các địa phương khác đến làm việc, góp phần xoá đói giảm nghèo. Thứ ba, phát huy nội lực địa phương, phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
Nghề, làng nghề phát triển tạo điều kiện khai thác thế mạnh của địa phương về nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, tiền vốn) để tập trung cho sản xuất kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, tổ sản xuất, hợp tác xã, công ty TNHH. Trong quá trình phát triển sẽ tạo ra đội ngũ lao động có tay nghề cao, lớp nghệ nhân mới có trình độ để tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ về công nghệ tiên tiến sản xuất ra những sản phẩm có giá trị cao, giá thành hạ, khả năng cạnh tranh thị trường lớn, đáp ứng dần với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Nghề, làng nghề phát triển kéo theo sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở làng nghề như: đường giao thông được cải tạo, nâng cấp; thiết chế văn hoá ở cơ sở được quan tâm xây dựng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt về vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời bảo tồn phát huy giá trị văn hoá ở các làng nghề của địa phương. Lịch sử phát triển các làng nghề truyền thống của Thành phố gắn với lịch sử phát triển văn hoá của dân tộc.