Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Phát triển kĩ năng tự học của học sinh trong dạy học chủ đề thể tích khối đa diện chƣơng trình toán 12 cơ bản. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm kĩ năng Trong cuộc sống, con ngƣời luôn thể hiện những năng lực nhất định để thực hiện những hoạt động nhất định.
Khi thực hiện các hoạt động này, con ngƣời cần có kiến thức cần thiết (khoa học và kinh nghiệm), phải có trình độ thành thạo các hoạt động, các động tác nhất định tƣơng ứng với hoạt động và phải có khả năng thực hành, quan sát, suy nghĩ, tƣởng tƣợng ghi nhớ. Bằng cách này, mọi ngƣời có thể thực hiện các hoạt động theo mục tiêu. Tất cả các yếu tố trên biểu thị năng lực của con ngƣời trong hoạt động đó. Có một số cách hiểu về kĩ năng nhƣ sau: - Cách hiểu 1: Hiểu kĩ năng nhƣ một sự thể hiện năng lực của con ngƣời.
Từ điển Tiếng Việt – NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2005 “Kĩ năng là khả năng của con ngƣời trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kĩ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý và giao tiếp” [23, tr 16]. Gôlubev cho rằng “Kĩ năng là khả năng con ngƣời thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở kinh nghiệm cũ” [22]. - Cách hiểu 2: Kĩ năng là hệ thống các thao tác, cách thức hành động Tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã nhận định “Kĩ năng là tổng hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp hài hòa, hợp lý nhằm đảm bảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lƣợng tinh thần, cơ bắp ít nhất trong những điều kiện thay đổi”[22]. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết định nghĩa nhƣ sau “Kĩ năng là năng lực của con ngƣời biết vận dụng các thao tác của một hành động theo quy định đúng đắn” [21, tr 15].
5 c Không chỉ coi kĩ năng là kĩ thuật, cách thức hành động mà còn coi kĩ năng là sự thể hiện của năng lực con ngƣời phải luyện tập theo đúng một quy trình nhất định. Kĩ năng còn là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có thể hành động phù hợp với các điều kiện cho phép”. Đặc điểm của ngƣời có kĩ năng: + Có kinh nghiệm, tri thức cần thiết về hành động; + Vận dụng kinh nghiệm đã tích lũy, vốn tri thức thu nhận đƣợc vào hành động một cách phù hợp với điều kiện cụ thể cho phép (cần linh hoạt, sáng tạo). Vấn đề kĩ năng đƣợc nhiều tác giả cho ý kiến, nhƣng về cơ bản các ý kiến không có gì mâu thuẫn với nhau.
Các tác giả tùy nhìn nhận theo lĩnh vực khoa học của mình mà nhấn mạnh khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Tóm lại, theo những cách hiểu về kĩ năng ở trên có hai cách tiếp cận kĩ năng theo hai phƣơng tiện khác nhau đó là nhìn nhận kĩ năng dƣới dạng năng lực hoạt động và nhìn nhận kĩ năng dƣới dạng hệ thống các thao tác. Qua phân tích một số quan điểm về kĩ năng nhƣ trên, ta có thể hiểu một cách tổng quát. “Kĩ năng là hệ thống phức tạp các thao tác đƣợc thực hiện thuần thục có hiệu quả và hình thành qua quá trình rèn luyện”.
Bản chất của quá trình hình thành kĩ năng là quá trình tự học tập, rèn luyện để nắm vững hệ thống các thao tác, tri thức xã hội. Khái niệm tự học Trong lịch sử có rất nhiều tấm gƣơng sáng đã thành tài nhờ nỗ lực học của bản thân nhƣ trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền đặc biệt là chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi ngày, sau giờ làm việc vất vả Ngƣời lại tự mình học tiếng Pháp bằng cách học thuộc lòng mỗi ngày mƣời từ, và cứ thế Ngƣời đã sử dụng thành thạo không chỉ tiếng Pháp mà còn nhiều ngoại ngữ khác nhƣ tiếng Trung Quốc, tiếng Anh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trong 6 c cách học phải lấy tự học làm nòng cốt”.
Ngƣời dạy “phải biết tự động học tập”. Theo Ngƣời: “tự học là cách học tự động” và “tự động học tập” là tự mình ý thức, chủ động, không cần ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình đặt ra mục tiêu, lên kế hoạch học tập, sau đó triển khai và thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác cuối cùng tự kiểm tra đánh giá việc học của mình. Nhà tâm lý học N.ARubakin trong cuốn sách “Tự học nhƣ thế nào” có câu: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra cho mình câu hỏi rồi tự mình lấy câu trả lời, đó là phƣơng pháp tự học”. Nhà tâm lý cho rằng tự học không phải chỉ là đọc sách mà còn phải biết nhận xét, so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết liên kết giữa các môn khoa học, không nên sợ bất đồng ý kiến với ngƣời khác, không nghiên cứu cái chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang trao đổi - “hãy học bằng tất cả lý trí và tâm hồn, cảm xúc của chính mình”.
Nhƣ vậy, với ông tự học là một quá trình ngƣời học tự tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh lý thuyết, giữa sách vở với thực tế cuộc sống từ đó rút ra kết luận riêng cho mình. Trong sách “Học tập hợp lý” do R.Retke làm chủ biên đã cho rằng “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong lần tổ chức giảng dạy”. Trong cuốn “Lý luận dạy học đại học”, GS. Đặng Vũ Hoạt và PGS.Hà Thị Đức cho rằng “Tự học là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính ngƣời học tự tiến hành trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chƣơng trình và sách giáo khoa đã đƣợc quy định.
Tự học có quan hệ chặt chẽ với quy trình dạy học nhƣng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân” [9, tr. Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ. để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [20, tr. Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là ngƣời học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình.
7 c Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”[20]. Nhƣ vậy, dù có nhiều quan điểm khác nhau về tự học nhƣng xét về bản chất thì tự học chính là sự tự lực của ngƣời học trong việc tìm kiếm tri thức cho bản thân, đó là quá trình tự tổ chức tự điều chỉnh, tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Trong trƣờng phổ thông, tự học đƣợc hiểu là quá trình chủ động, tự giác của ngƣời học nhằm nắm bắt các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo dƣới sự hƣớng dẫn, hỗ trợ của thầy cô. Khái niệm kĩ năng tự học Một phần không thể thiếu của việc dạy học là dạy kĩ năng tự học.
Tri thức văn hóa của nhân loại là vô tận mà tri thức trên các lĩnh vực lại tăng dần theo thời gian. Để sống và hoạt động suốt đời thì phải có kĩ năng tự học. Kĩ năng này đƣợc hình thành trong quá trình học trên ghế nhà trƣờng. Vì thế, quá trình dạy học phải bao gồm cả dạy kĩ năng tự học.
Kĩ năng tự học là chuỗi các hành động tự học và các thao tác tự học bằng cách lựa chọn và thực hiện các phƣơng thức hành động phù hợp với hoàn cảnh nhất định nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhiệm vụ học tập đặt ra. Tự học toán không phải là cô lập ngƣời học ra khỏi xã hội, để ngƣời học đơn thƣơng độc mã suy nghĩ giải bài toán. Biết tự học toán cũng có nghĩa là biết kế thừa những kết quả toán học, khai thác những phƣơng tiện mà loài ngƣời cung cấp để thực hiện quá trình học toán. Để tự học giải bài tập toán học mà sự suy nghĩ của riêng cá nhân mình không thể giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra, học sinh có thể và cần biết đọc sách, trong đó có thể trong sách chỉ hỗ trợ ở mức độ là cho đáp số nhƣng cũng có thể mức cao hơn: hƣớng dẫn cách giải.
Học sinh phải biết cách sử dụng những phƣơng tiện hỗ trợ đó, đúng chỗ, đúng cách, đúng lúc. Cơ sở của vấn đề phát triển kĩ năng tự học của học sinh 1. Mục tiêu giáo dục và đào tạo Môn Toán với chức năng nhiệm vụ là góp phần tích cực vào việc giúp cho học sinh phát triển toàn diện. Việc dạy học Toán ở trƣờng THPT phải đạt đƣợc mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Cung cấp cho học sinh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và phƣơng pháp toán học cơ bản thiết thực và kĩ năng vận dụng vào trong toán học; - Rèn luyện cho học sinh phát triển tƣ duy sáng tạo, tƣ duy logic và ngôn ngữ chính xác. Còn rèn luyện các hoạt động cơ bản trí tuệ nhƣ phân tích, trừu tƣợng hóa, tổng hợp, khái quát hóa; - Hình thành phẩm chất, phong cách lao động khoa học, giúp học sinh biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học; Tóm lại, mục tiêu của môn Toán ở trƣờng THPT là cung cấp kiến thức, tri thức cơ bản, có hệ thống. Trên cơ sở đó, giáo dục tình cảm, thái độ đúng với chuẩn mực, các sự kiện, bồi dƣỡng lòng yêu nƣớc, tự hào, tự tôn dân tộc. Việc hƣớng dẫn học sinh tự học sẽ phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần thực hiện tốt mục tiêu môn học đề ra.
Một số đặc điểm nhân cách của học sinh THPT a. Sự hình thành và phát triển tƣ duy Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Vì cơ thể các em đã phát triển một cách hoàn thiện, nhất là não phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ. Cảm xúc của các em đã đạt tới mức độ của ngƣời trƣởng thành.
Các em biết làm chủ cảm xúc không bị ngoại cảnh tác động cũng nhƣ thể hiện cảm xúc phù hợp với từng hoàn cảnh. Quá trình quan sát gắn liền với tƣ duy và ngôn ngữ.