Chương 1 CHỦ CHƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1. Các yếu tố tác động, và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về kinh tế tƣ nhân 1. Các yếu tố tác động * Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ Phú Thọ được tái lập ngày 01-01-1997, là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc, theo đường Quốc lộ 2. Phú Thọ có vị trí địa lý tiếp giáp với các tỉnh sau: Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình; phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, Sơn La.
Có 3 dòng sông lớn chảy qua và hợp lưu tại Bạch Hạc (Thành phố Việt Trì) là sông Hồng, sông Đà và sông Lô; Tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 3.532,94 km2, dân số tính đến 31/12/2015 là 1,488 triệu người, có 11 huyện, 01 Thành phố và 01 thị xã; 277 xã, phường, thị trấn [72]. Phú Thọ là tỉnh có địa hình đa dạng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt, địa hình có đặc trưng cả 3 vùng: miền núi, trung du và đồng bằng, tạo nên vùng đất “sơn chầu, thuỷ tụ”; giao thông ngược xuôi đều thuận lợi. Đó là vùng đất chuyển tiếp, nối kết giữa miền núi cao, thượng du với đồng bằng châu thổ sông Hồng, đã tạo cho Phú Thọ vị thế “địa - chính trị” vô cùng quan trọng và “địa - văn hoá” phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là yếu tố để Phú Thọ trở kinh đô của Quốc gia Văn Lang thời đại Hùng Vương dựng nước.
Về khí hậu, Phú Thọ nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, khô, mùa hè nắng, nóng, mưa nhiều. Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.272 giờ,lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.524,1 mm, nhiệt độ trung bình 23,40C, độ ẩm trung bình 84% [31; tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về tài nguyên nước, Phú Thọ có hệ thống sông suối, hồ ao khá phong phú. Tài nguyên nước được cung cấp chủ yếu bởi hai sông chính là sông Hồng, sông Đà và sông Lô cùng các hồ, đầm dự trữ lớn như đầm Ao Châu, đầm Chính Công, và một hệ thống 72 ngòi lớn nhỏ dồn nước từ khắp các vùng về 3 con sông lớn tạo ra nguồn nước khá dồi dào.
Tài nguyên nước ngầm dưới đất theo thống kê đạt tới 2,068 triệu m3/ngày đêm, nhưng mới khai thác từ 13-15% [31; tr. Đặc biệt, nước khoáng nóng Thanh Thuỷ có trữ lượng gần 50 triệu lít. Tài nguyên nước của Phú Thọ dồi dào, chất lượng còn khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và điều hào môi trường khí hậu. Tài nguyên đất, Phú Thọ bao gồm đất nông nghiệp 282.050 ha, chiếm 79,83% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 98.285 ha chiếm 34,85%, đất lâm nghiệp 178.732 ha 63,37%, đất nuôi trồng thủy sản 4.974,5 ha chiếm 1,76%; đất nông nghiệp khác 58,69 ha chiếm 0,02%).
Đất đai của Phú Thọ gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của một miền đất cổ, được chia thành 12 nhóm đất, trong đó đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất và đất Feralit trên núi chiếm tới 61% tổng diện tích đất tự nhiên, nằm ở độ cao trung bình 100m [31; tr12] , tầng đất dày, thành phần cơ giới nặng, trữ ẩm tốt, độ phì khá, phù hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm. Tài nguyên rừng, của Phú Thọ gồm 178,90 nghìn ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 64.064,6 ha và rừng trồng là 114. Nguồn đất đai và khí hậu thích hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), đặc biệt là phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn. Về khoáng sản, Phú Thọ là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản, phong phú về chủng loại, một số khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng khá cao đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần để xuất khẩu.
Loại khoáng sản có trữ lượng lớn đó là: Khoáng sản làm vật liệu xây dựng có: đá vôi xi măng, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đá xây dựng, sét xi măng, đá silic, Puzơlan. Khoáng sản công nghiệp có: barit, kaolin, fenspat, sét gốm sứ, quăczit. và nhiều loại khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại, nước khoáng- nước nóng và nguyên tố phóng xạ. Các khoáng sản trên được phân bố rải rác tại 241 điểm mỏ và điểm quặng các loại, trong đó có 20 mỏ lớn và vừa, 52 mỏ nhỏ và 169 điểm quặng.
Trong các loại khoáng sản của tỉnh Phú Thọ chiếm ưu thế về trữ lượng, chất lượng là kaolin, fenspat, cát sỏi Sông Lô, đá xây dựng. Kaolin với trữ lượng 16,8 triệu tấn; fenspat: 19 triệu tấn; cát vàng sông Lô: 31 triệu tấn; đá xây dựng: 930 triệu tấn; keramit dự báo: 49 triệu tấn; than bùn: 2 triệu tấn; quăczit: 10 triệu tấn; talc: 1 triệu tấn, ngoài ra còn có mica, đá silic, disten, uran…) [31; tr.14] rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp khai khoáng và các ngành công nghiệp phụ trợ. Tỉnh Phú Thọ có lực lượng lao động trẻ, dồi dào và được đào tạo với tỷ lệ 41% đến năm 2015. Bên cạnh đó, là một tỉnh có nhiều danh lam, di tích lịch sử, là cội nguồn dân tộc Việt Nam với các di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.
Với lượng lao động trẻ chiếm phần lớn là một trong những nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh. Kể từ khi tái lập tỉnh, với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương, sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Phú Thọ đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế trong hiện tại cũng như tương lai. Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch hết sức phong phú, đa dạng; nguồn lao động dồi dào là một trong những nguồn lực để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Khai thác và sử dụng có hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phần kinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân.
Sự góp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tận dụng, phát 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huy tối đa lợi thế của tỉnh Phú Thọ, tạo điều kiện, cơ sở thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõ nét, nổi bật hơn. * Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam Có một thời gian dài trong lịch sử, kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chỉ tồn tại 2 thành phần kinh tế chính: Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, kinh tế gia đình và tiểu chủ phụ thuộc vào kinh tế nhà nước và tập thể.
Kinh tế tư bản tư nhân chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hay công ty hợp doanh. Trước năm 1986, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (tháng 8/1979) được coi là bước tiến đầu tiên trong thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất, đánh dấu sự nghiệp đổi mới bắt đầu. Hội nghị đã thừa nhận sự tồn tại của một nền kinh tế thị trường. Đến Đại hội V (1982) chuyển từ chế độ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế. Như thế, từ việc coi kinh tế tư nhân là thành phần cần cải tạo và xóa bỏ, Đảng đã có sự thay đổi nhận thức bằng việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia. Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng với chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ. Đại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nếu như Đại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là một 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì đến Đại hội VII kinh tế tư nhân đã thực sự được phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng trong việc nhìn nhận lại về kinh tế tư nhân “phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng.
Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định” [25, tr. Cương lĩnh đã thể hiện thái độ thừa nhận của Nhà nước với thành phần kinh tế tư nhân bằng một chính sách thông thoáng khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế này: “kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước.