Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân 1. Một số khái niệm liên quan đến kinh tế tư nhân 1. Khái niệm về thành phần kinh tế Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ “thành phần kinh tế”.
Có ý kiến muốn thay thuật ngữ “thành phần kinh tế” bằng “khu vực kinh tế” hay “loại hình kinh tế”. Có ý kiến lại cho rằng: không dùng các thuật ngữ trên, mà gọi trực tiếp tên của mỗi bộ phận của nền kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân. Trước hết, “thành phần” ở đây xét về góc độ nào đó cũng được hiểu như là “bộ phận”, bởi vậy “thành phần” và “bộ phận” về mặt nào đó có ý nghĩa tương đồng. Thuật ngữ “thành phần kinh tế” được dùng nhiều từ khi V.Lênin và Đảng Cộng sản Nga chủ trương và thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) ở nước Nga (Xôviết).Lênin viết: “Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có.
Song không phải mỗi người thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu kinh tế - xã hội khác nhau hiện có ở Nga, chính là như thế nào. Mà tất cả then chốt của vấn đề lại chính là ở chỗ đó”. Theo Lênin, thuật ngữ “thành phần kinh tế” hàm nghĩa quan hệ sản xuất (trong đó cơ bản là quan hệ sở hữu) ứng với một trình độ phát triển lực lượng sản xuất nhất định đại diện cho một phương thức sản xuất đã lỗi thời, nhưng chưa bị xóa bỏ, hoặc đang trong quá trình phát triển để trở thành phương thức sản xuất thống trị (với nghĩa phổ biến). Việc xác định thành phần kinh tế là để có chính sách đúng đắn đối với chúng.
Trong thời kỳ quá độ, do trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, nên còn nhiều chế độ sở hữu, nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Vì vậy còn nhiều thành phần kinh tế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan. Việc phân định các 14 thành phần kinh tế mới hiểu được các đặc trưng cơ bản và xu hướng vận động của chúng để có chính sách phù hợp nhằm phát huy được tiềm lực của chúng vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Khi phân định thành phần kinh tế, V.Lênin nhấn mạnh hai điểm: phải phản ánh đúng tình hình thực tế và nêu rõ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế.
Từ những luận điểm trên, có thể hiểu: “Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.Thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế” Ở nước ta, trước khi đổi mới thực chất chỉ phát triển hai thành phần kinh tế là Kinh tế Nhà nước và Kinh tế tập thể dựa trên hai hình thức sử hữu Nhà nước và tập thể. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12/1986 - Đại hội đổi mới, Đảng ta đã xác định 5 thành phần kinh tế chủ yếu, gồm: Kinh tế xã hội chủ nghĩa (Quốc doanh, tập thể, gia đình); Kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ; Kinh tế tự túc, tự cấp; Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục khẳng định 5 thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, Kinh tế tư nhân, và Kinh tế tư bản nhà nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ rõ: “Từ các hình thức sở hữu cơ bản sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”.
Đại hội VIII (năm 1996) có 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp tác xã, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), gồm có 6 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; Kinh tế hợp tác xã; Kinh tế cá thể tiểu chủ; Kinh tế tư bản tư nhân;Kinh tế tư bản nhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đến Đại hội X (năm 2006), Đảng ta đã làm rõ hơn về 5 thành phần kinh tế, gồm: Kinh tế nhà nước;Kinh tế tập thể; Kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư bản tư nhân); Kinh tế tư bản nhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Như vậy, Đại hội X chỉ khác Đại hội IX ở chỗ đã sát nhập hai thành phần kinh tế kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư bản tư nhân thành một thành phần đó là kinh tế tư nhân, là vì hai thành phần này có điểm chung giống nhau là đều dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặt khác, 15 chúng ta cũng xóa đi sự mặc cảm đối với kinh tế tư bản tư nhân và cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân.
Tại Đại hội XI (năm 2011), sau 10 năm thực hiện Chiến lược đầu tiên về phát triển KT-XH, qua tổng kết và Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gồm có 4 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Đại hội XII (năm 2016),Đảng ta vẫn giữ nguyên 4 thành phần kinh tế như Đại hội XI. Khu vực kinh tế Hiện nay, trong phân tổ của ngành Thống kê thường phân chia 5 thành phần theo ba khu vực kinh tế, gồm: Kinh tế Nhà nước; Kinh tế ngoài Nhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (thường viết tắt theo tên tiếng Anh là FDI). Còn khi phân chia các ngành kinh tế nói chung được xếp vào ba khu vực kinh tế, gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (còn gọi là khu vực I); khu vực công nghiệp và xây dựng (còn gọi là khu vực II) và khu vực dịch vụ (còn gọi là khu vực III). Ngoài ra, ở phạm vi lớn hơn có thể phân chia nền kinh tế thành hai khu vực là khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế nước ngoài hoặc khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức.
Như vậy, khu vực kinh tế được dùng trong rất nhiều phân tổ và tủy theo từng mục đích mà có cách phân loại khác nhau, đây là một thuật ngữ mở dùng để nghiên cứu và sử dụng linh hoạt cho nhiều lĩnh vực, hoạt động khác nhau. Kinh tế tư nhân Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh đặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất. Qua đây, có thể hiểu rằng kinh tế tư nhân (KTTN) được hình thành bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tuy trong các tài liệu nghiên cứu của C.Mác và Lênin chưađề cập đến thuật ngữ kinh tế tư nhân, nhưng trong nhiều tác phẩm các ông lại thường nhắc đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và lao động trong khu vực tư nhân.
Nói một cách khác, kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa mà C.Mácvà Lênin nói đến là một hình thức phát triển của kinh tế tư nhân trong thời đại tư bản chủ nghĩa phát triển. 16 Ở nước ta, quan niệm về KTTN cũng thay đổi qua các giai đoạn khác nhau. Trong đó, quan niệm cho rằng KTTN là một thành phần kinh tế đang được các học giả, các nhà nghiên cứu về kinh tế nhắc đến nhiều hơn và cũng sử dụng nhiều hơn trong các bài viết, các đề tài nghiên cứu, nhưng cũng có một số ý kiến lại cho rằng KTTN là một khu vực kinh tế, một hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc là khu vực kinh tế dân doanh. Ngay trong các văn kiện của Đảng, KTTN cũng từng bước được làm rõ, phát triển, bắt đầu từ Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (năm 1988) và Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá VI) đã nêu quan niệm: KTTN là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra, cùng sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, bao gồm các hình thức xí nghiệp tư doanh (sau này là doanh nghiệp tư nhân), công ty hợp doanh, công ty cổ phần.
Trong văn kiện Đại hội X của Đảng, KTTN đã được làm rõ, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Theo đó“Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những địa phương, những vùng chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể;đồng thời hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới hình thức liên kết hoặc cổ phần. Cách hiểu này chính là căn cứ vào tính chất của quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất và vốn. Đặc biệt, trong Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở Việt Nam bao gồm ba hình thức cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân.
Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền kinh tế có các thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước. Đến Đại hội XI (2011) Đảng ta đã khẳng định và tiếp tục đề ra những chủ trương, xây dựng các chính sách nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Theo đó, phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy định của pháp luật.