Chương 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tƣ nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2000 Chương 2: ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ nhân từ năm 2001 đến năm 2005 Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hƣơng 1 Ủ ƢƠN V SỰ Ỉ O P ÁT TR ỂN N TẾ TƢ N N Ủ ẢN B TỈN QUẢN N N TỪ N M 1991 ẾN N M 2000 1. ác yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Quảng Ninh là một vùng đất đã có lịch sử từ lâu đời. Trải qua thời đại từ các Vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến, Quảng Ninh đã được gọi dưới nhiều tên khác nhau như Lục Hải, Hải Ninh, Ninh Hải, Châu Hoàng, Lục Châu, Hải ông.
Với bề dày lịch sử lâu đời như vậy, Quảng Ninh đã có nhiều di tích nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch ằng, Thương cảng Vân ồn, Khu quần thể các lăng vua Trần ở ông Triều, núi Yên Tử… đi vào lịch sử và trường tồn cùng thời gian. Ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa ) đã nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành Quảng Ninh. Tên gọi Quảng Ninh là ghép hai chữ cuối của Hồng Quảng và Hải Ninh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, “ uảng” có nghĩa là rộng lớn, “Ninh” có nghĩa là yên ổn, bền vững. Như vậy, tên gọi Quảng Ninh chính thức có hiệu lực từ năm 1963 với ý nghĩa là một vùng đất rộng lớn và bền vững.
Về vị trí địa lý, Quảng Ninh nằm ở phía ông Bắc, phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn và Trung uốc, phía Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng và Hải Dương, phía Nam và phía ông giáp biển. Vị trí này rất thuận lợi cho các hoạt động trao đổi, tiếp xúc kinh tế với các tỉnh lân cận và Trung Quốc – nơi có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển, có mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển và đang được mở rộng. ồng thời là cửa ngõ thông ra biển cho nhiều tỉnh ở phía Bắc, các hoạt động vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế với các tỉnh và thiết lập mối quan hệ không chỉ bằng đường bộ mà còn bằng đường biển với các nước trong khu vực, quốc tế được diễn ra sôi nổi, năng động.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là 6.813 km2 đất liền, 6.000 km2 đường biển. Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải, hơn 80% đất đai là đồi núi, hơn 2.000 hòn đảo nổi trải dài theo đường ven biển dài hơn 250 km [97, tr. Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh và ít mưa. Nguồn đất đai và khí hậu thích hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản), đặc biệt là phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn.
Tính đến ngày 01/04/2009, dân số Quảng Ninh là 1.381 người, mật độ dân số trung bình là 187 người/km2. Tỷ lệ dân số sống ở thành thị là 50,3%, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn trong tỉnh Quảng Ninh [97, tr. Nguồn dân số đông, phân bố tương đối đồng đều giữa thành thị và nông thôn đã cung cấp nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các hoạt động kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh là nơi cư trú 22 tộc người, với lịch sử hình thành lâu đời đã tạo nên những cộng đồng người có ngôn ngữ, bản sắc dân tộc rõ rệt như Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, oa… [97, tr.
Trong đó, người Kinh có số lượng đông đảo nhất chiếm tới 89,23%. Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các tộc người vẫn có sự chênh lệch lớn, tập trung phát triển chủ yếu ở cộng đồng người Kinh vùng đồng bằng, đô thị, ven biển, còn những tộc người khác cư trú ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn lạc hậu, nghèo nàn, kinh tế hết sức khó khăn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về tài nguyên, Quảng Ninh nổi tiếng với những tài nguyên du lịch như: Vịnh Hạ Long, Bãy Cháy, Tuần hâu… Khu du lịch này không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà còn nổi tiếng với du khách nước ngoài. àng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm.
Bên cạnh đó là những tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với trữ lượng lớn như than đá, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Tuy nhiên, giàu có và nổi tiếng bậc nhất là phải kể đến than đá, không một địa phương nào có được nguồn than đá dồi dào đến như vậy. ây cũng chính là thế mạnh của Quảng Ninh trong việc phát triển ngành CN khai khoáng nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Phân chia đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện: Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; Thị xã Quảng Yên, ông Triều; Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, ô Tô, Vân ồn, Hoành Bồ, ầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà. Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch hết sức phong phú, đa dạng là một trong những nguồn lực để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng.
Khai thác và sử dụng có hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phần kinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân. Sự góp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tận dụng, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện, cơ sở thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò lãnh đạo của ảng bộ trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõ nét, nổi bật hơn. Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh trở thành một trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), uảng Ninh bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh. Năm 1979, chiến tranh biên giới nổ ra, nhân dân Quảng Ninh lại phải tiếp tục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thêm một lần nữa. Khắc phục hậu quả và chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu hàng đầu của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những ngày đầu thống nhất đất nước. Năm 1986, dưới sự lãnh đạo của ảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, ảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực.
Mặc dù con đường đổi mới còn nhiều thách thức nhưng với tinh thần và sự quyết tâm thì ảng bộ và nhân dân Quảng Ninh đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, phấn đấu xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam Có một thời gian dài trong lịch sử, kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chỉ tồn tại 2 thành phần kinh tế chính: Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, kinh tế gia đình và tiểu chủ phụ thuộc vào kinh tế nhà nước và tập thể. Kinh tế tư bản tư nhân chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hay công ty hợp doanh.
Trước năm 1986, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương ảng khóa IV (tháng 8/1979) được coi là bước tiến đầu tiên trong thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất, đánh dấu sự nghiệp đổi mới bắt đầu. Hội nghị đã thừa nhận sự tồn tại của một nền kinh tế thị trường. ến ại hội V (1982) chuyển từ chế độ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế.
Như thế, từ việc coi kinh tế tư nhân là thành phần cần cải tạo và xóa bỏ, ảng đã có sự thay đổi nhận thức 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia. Năm 1986, ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ảng với chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ. ại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu như ại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là một bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì đến ại hội VII kinh tế tư nhân đã thực sự được phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã thể hiện rất rõ quan điểm của ảng trong việc nhìn nhận lại về kinh tế tư nhân “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.
Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định” [25, tr. ương lĩnh đã thể hiện thái độ thừa nhận của Nhà nước với thành phần kinh tế tư nhân bằng một chính sách thông thoáng khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế này: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.