Luận văn: Phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Lý Nhân, Hà Nam

Luận văn thạc sĩ về phát triển kinh tế nông nghiệp tại huyện Lý Nhân, Hà Nam. Nghiên cứu chuyên sâu, phân tích tiềm năng và giải pháp thúc đẩy nông nghiệp địa phương.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh kinh tế nông nghiệp Lý Nhân Tiềm năng Cơ hội

Huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sở hữu những điều kiện nền tảng vững chắc để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp một cách toàn diện. Vị trí địa lý thuận lợi trong vùng đồng bằng sông Hồng, cùng hệ thống giao thông kết nối, tạo lợi thế lớn trong giao thương và tiếp cận công nghệ. Nguồn tài nguyên đất đai phong phú, được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng và sông Châu Giang, là cơ sở cho một nền nông nghiệp đa dạng. Bên cạnh đó, nguồn lao động dồi dào với truyền thống canh tác lâu đời là động lực cốt lõi. Giai đoạn 2010-2015 chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng, với giá trị sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản tăng bình quân 4,58%/năm. Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đạt 93 triệu đồng/ha vào năm 2015. Những thành tựu này khẳng định tiềm năng to lớn và mở ra cơ hội đột phá cho kinh tế nông nghiệp Lý Nhân trong bối cảnh mới, hướng tới sản xuất hàng hóa bền vững và hiệu quả cao.

1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất đai thuận lợi

Huyện Lý Nhân có vị trí đắc địa, là cửa ngõ giao thương giữa Hà Nam với các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình và Nam Định. Địa hình bằng phẳng, được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Hồng và sông Châu Giang, không chỉ thuận lợi cho canh tác mà còn cho phát triển giao thông thủy bộ. Theo thống kê, huyện có tổng diện tích đất tự nhiên 16.873,25 ha, trong đó phần lớn là đất phù sa màu mỡ. Tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Thái Bình Minh (2015) chỉ rõ, đất đai tại Lý Nhân chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa sông Hồng, với các loại chính như đất phù sa glây chua, đất phù sa chua và đất phù sa ít chua. Đặc điểm này rất phù hợp để phát triển đa dạng các loại cây trồng, đặc biệt là lúa nước, cây màu vụ đông và cây công nghiệp ngắn ngày. Nguồn nước mặt dồi dào từ hệ thống sông ngòi và nguồn nước ngầm phong phú đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai, tạo nền tảng vững chắc cho việc thâm canh tăng vụ.

1.2. Nguồn nhân lực dồi dào và truyền thống canh tác

Lao động là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của phát triển kinh tế nông nghiệp. Với dân số 177.532 người (số liệu năm 2015), Lý Nhân sở hữu nguồn nhân lực tại chỗ dồi dào. Người dân nơi đây có truyền thống cần cù, hiếu học và giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Các thế hệ nông dân đã tích lũy được nhiều kiến thức bản địa quý báu trong việc canh tác trên vùng đất chiêm trũng. Đây là một lợi thế quan trọng, giúp huyện dễ dàng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Hơn nữa, các làng nghề thủ công truyền thống như dệt may, thêu ren, mộc... cũng góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn vào thời gian nông nhàn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động một cách hiệu quả.

1.3. Thành tựu kinh tế nông nghiệp Lý Nhân giai đoạn qua

Giai đoạn 2011-2015, kinh tế nông nghiệp Lý Nhân đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của huyện đạt 12,53%, trong đó nông nghiệp đóng vai trò trụ đỡ quan trọng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành nông - lâm, thủy sản giảm từ 37,18% xuống còn 30,57%. Tổng sản lượng lương thực bình quân đạt 91.684 tấn/năm, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực. Đặc biệt, huyện đã thành công trong việc chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Tỷ lệ lúa lai, lúa chất lượng cao tăng mạnh, chiếm lần lượt 66% và 40% diện tích. Các mô hình sản xuất hiệu quả như "cánh đồng mẫu" tại xã Nhân Bình, Nhân Mỹ, Xuân Khê đã được triển khai, mở đường cho nền nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn.

II. Những rào cản chính cho kinh tế nông nghiệp Lý Nhân Hà Nam

Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, kinh tế nông nghiệp Lý Nhân vẫn đối mặt với không ít thách thức. Rào cản lớn nhất đến từ thực trạng sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết bền vững giữa các hộ nông dân và doanh nghiệp. Điều này làm giảm hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa vào sản xuất chưa đồng bộ, chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Hơn nữa, hạ tầng phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, dù được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sản xuất quy mô lớn. Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, cùng với sự biến động khó lường của thị trường tiêu thụ, tạo ra rủi ro lớn cho người nông dân. Việc khắc phục những tồn tại này là yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế nông nghiệp Lý Nhân một cách bền vững.

2.1. Thực trạng sản xuất nhỏ lẻ manh mún và thiếu liên kết

Quy mô sản xuất nhỏ lẻ là đặc điểm cố hữu của nền nông nghiệp huyện Lý Nhân và cũng là trở ngại chính. Mặc dù chương trình dồn điền đổi thửa đã đạt được kết quả bước đầu, giảm số thửa ruộng bình quân xuống còn 1,5 thửa/hộ, nhưng diện tích canh tác của mỗi hộ vẫn còn nhỏ. Luận văn của Nguyễn Thái Bình Minh (2015) chỉ ra rằng: “Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định và dễ bị ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị trường”. Tình trạng này gây khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, đầu tư thâm canh và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Sự liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã còn lỏng lẻo, chủ yếu mang tính tự phát. Điều này dẫn đến tình trạng nông sản thường bị tư thương ép giá, đầu ra không ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người sản xuất.

2.2. Hạn chế trong ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp tại Lý Nhân đã có những chuyển biến nhưng chưa thực sự trở thành động lực chính. Các mô hình sản xuất tiên tiến, nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế, chưa được nhân rộng. Phần lớn nông dân vẫn sản xuất dựa trên kinh nghiệm là chính, việc tiếp cận các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao còn chậm. Công tác khuyến nông tuy được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao. Các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như cung ứng vật tư, bảo vệ thực vật, chế biến sau thu hoạch chưa phát triển tương xứng, làm tăng chi phí sản xuất và giảm giá trị gia tăng của nông sản. Thiếu các cơ sở chế biến sâu cũng là một điểm yếu, khiến nông sản chủ yếu được tiêu thụ ở dạng thô, giá trị kinh tế thấp.

2.3. Hạ tầng nông thôn và thách thức từ thị trường

Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Lý Nhân đã được quan tâm đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng chưa được kiên cố hóa hoàn toàn, khả năng tưới tiêu cho một số vùng trũng còn hạn chế, đặc biệt khi đối mặt với các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán hay ngập úng. Giao thông nông thôn, đường ra đồng ở một số khu vực còn khó khăn, ảnh hưởng đến việc vận chuyển vật tư và nông sản. Về thị trường tiêu thụ, nông sản của Lý Nhân chủ yếu phục vụ thị trường nội địa, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh để vươn ra các thị trường lớn và xuất khẩu. Sự phụ thuộc vào thương lái và biến động giá cả khiến người nông dân luôn ở thế bị động, lợi nhuận không cao.

III. Giải pháp quy hoạch tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Lý Nhân

Để vượt qua thách thức và khai thác hiệu quả tiềm năng, việc tái cơ cấu và quy hoạch lại nền sản xuất là giải pháp mang tính chiến lược cho kinh tế nông nghiệp Lý Nhân. Trọng tâm là hoàn thiện công tác quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, gắn với lợi thế của từng tiểu vùng. Trên cơ sở đó, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị và đáp ứng nhu cầu thị trường. Thay vì sản xuất dàn trải, huyện cần xác định các sản phẩm chủ lực, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã kiểu mới. Các mô hình này sẽ đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt các hộ sản xuất nhỏ lẻ tham gia vào chuỗi liên kết, tạo ra đột phá về quy mô và hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp một cách bền vững.

3.1. Hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cần được rà soát và điều chỉnh một cách khoa học. Dựa trên đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, cần phân định rõ các vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, vùng trồng cây màu vụ đông, vùng rau an toàn, và vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tập trung. Theo tài liệu nghiên cứu, Lý Nhân có thể chia thành các tiểu vùng với các kiểu hình sử dụng đất khác nhau như vùng chuyên lúa, vùng 2 lúa - 1 màu, vùng chuyên rau màu. Việc quy hoạch phải gắn liền với đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng. Mục tiêu là hình thành các cánh đồng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa và áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu nông sản địa phương.

3.2. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hóa

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp phải tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong trồng trọt, cần giảm dần diện tích lúa năng suất thấp, thay bằng các giống lúa đặc sản, chất lượng cao có giá trị kinh tế vượt trội. Mở rộng diện tích các cây vụ đông có giá trị như khoai tây, bí, dưa chuột, ngô ngọt, hướng tới phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong lĩnh vực chăn nuôi, cần chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển các trang trại quy mô lớn, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Ưu tiên phát triển các vật nuôi có lợi thế như lợn, gia cầm, và phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh. Việc chuyển dịch này phải dựa trên tín hiệu của thị trường tiêu thụ và có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

3.3. Phát triển mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã

Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến là chìa khóa để khắc phục tình trạng manh mún. Cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ nông dân tích tụ ruộng đất để thành lập các trang trại sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Các trang trại này sẽ là nơi tiên phong áp dụng công nghệ cao và các phương thức quản lý hiện đại. Song song đó, cần củng cố và phát triển các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp kiểu mới. HTX không chỉ làm dịch vụ đầu vào (giống, vật tư) mà còn phải đứng ra tổ chức sản xuất, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp, và hỗ trợ thành viên xây dựng thương hiệu. Một HTX mạnh sẽ là cầu nối hiệu quả, bảo vệ lợi ích cho các nông hộ, giúp họ tham gia vào chuỗi giá trị nông sản một cách bình đẳng và hiệu quả.

IV. Bí quyết nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp Lý Nhân

Để kinh tế nông nghiệp Lý Nhân không chỉ tăng trưởng về sản lượng mà còn đột phá về giá trị, cần tập trung vào các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng. Chìa khóa đầu tiên là đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa một cách toàn diện, từ khâu sản xuất đến thu hoạch và bảo quản. Việc này giúp giảm chi phí, giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao chất lượng nông sản. Tiếp theo, xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại là nhiệm vụ sống còn. Nông sản Lý Nhân cần có tên tuổi, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng để chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Cuối cùng, việc tăng cường và củng cố liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) sẽ tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ vững chắc, đảm bảo đầu ra ổn định và phân chia lợi ích hài hòa, giúp nông nghiệp phát triển theo chuỗi giá trị bền vững.

4.1. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa

Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật là yêu cầu bắt buộc. Cần chủ động phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để khảo nghiệm và đưa vào sản xuất đại trà các giống cây, con mới có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ ở các khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc, và đặc biệt là thu hoạch, sấy, bảo quản. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nông dân, HTX vay vốn ưu đãi để đầu tư máy móc, thiết bị. Việc áp dụng các quy trình sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP sẽ giúp nâng cao chất lượng và giá trị nông sản, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

4.2. Xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại nông sản

Nông sản muốn bán được giá cao phải có thương hiệu. Huyện Lý Nhân cần hỗ trợ các HTX, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực như gạo chất lượng cao, rau an toàn, sản phẩm chăn nuôi. Công tác quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm phải được thực hiện nghiêm ngặt. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm thông qua các hội chợ, triển lãm, và các kênh thương mại điện tử. Phòng kinh tế huyện cần đóng vai trò là đầu mối cung cấp thông tin thị trường, kết nối các doanh nghiệp phân phối, chế biến với các vùng sản xuất tại địa phương. Việc xây dựng thành công một vài thương hiệu nông sản mạnh sẽ là đầu tàu kéo theo sự phát triển của cả ngành nông nghiệp Hà Nam.

4.3. Tăng cường liên kết 4 nhà trong chuỗi giá trị sản phẩm

Mô hình liên kết "4 nhà" cần được triển khai một cách thực chất và hiệu quả. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua các chính sách về đất đai, tín dụng, hạ tầng và quản lý quy hoạch. Nhà khoa học cung cấp các giải pháp công nghệ, giống và quy trình sản xuất tiên tiến. Nhà doanh nghiệp đầu tư vốn, công nghệ chế biến và tổ chức thị trường tiêu thụ. Nhà nông là chủ thể trực tiếp của quá trình sản xuất. Mối liên kết chặt chẽ này giúp khắc phục tình trạng sản xuất tự phát, manh mún. Doanh nghiệp sẽ chủ động được nguồn cung nguyên liệu ổn định về số lượng và chất lượng, trong khi nông dân có đầu ra đảm bảo với giá cả hợp lý, giảm thiểu rủi ro.

V. Định hướng bền vững cho kinh tế nông nghiệp huyện Lý Nhân

Hướng đi trong tương lai của kinh tế nông nghiệp Lý Nhân là phát triển bền vững, toàn diện, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Để làm được điều này, việc phát triển nông nghiệp phải song hành với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật. Đồng thời, cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Một nền nông nghiệp hiện đại, có sức cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường sẽ là trụ cột vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lý Nhân, Hà Nam trong giai đoạn tới.

5.1. Mục tiêu phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Phát triển nông nghiệp là nội dung cốt lõi của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tăng trưởng từ nông nghiệp sẽ tạo nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như điện, đường, trường, trạm. Ngược lại, một bộ mặt nông thôn khang trang, hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất và thu hút đầu tư. Các mục tiêu phát triển nông nghiệp cần được lồng ghép chặt chẽ với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, như tiêu chí về thu nhập, hộ nghèo, hình thức tổ chức sản xuất, và môi trường. Phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả, đi đôi với việc xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống.

5.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nghề nông thôn

Con người là yếu tố quyết định. Cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức sản xuất, kinh doanh cho nông dân. Phối hợp với các trường dạy nghề để mở các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, sử dụng máy móc nông nghiệp, và quản lý kinh tế hộ. Khuyến khích thế hệ trẻ, có trình độ tham gia vào sản xuất nông nghiệp, khởi nghiệp từ nông nghiệp. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông, cán bộ quản lý nông nghiệp cấp cơ sở để họ thực sự là những người đồng hành, hỗ trợ hiệu quả cho nông dân. Một lực lượng lao động nông thôn có tay nghề, có tư duy kinh tế thị trường sẽ là động lực quan trọng để hiện đại hóa nền nông nghiệp Lý Nhân.

5.3. Tăng cường quản lý nhà nước và cải cách hành chính

Vai trò quản lý của nhà nước là vô cùng quan trọng trong việc định hướng, hỗ trợ và tạo môi trường cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Chính quyền địa phương cần nâng cao hiệu lực quản lý quy hoạch, giám sát việc sử dụng đất đai đúng mục đích, hiệu quả. Tích cực cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, tín dụng, đăng ký kinh doanh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể, thiết thực, tập trung vào các khâu yếu như giống, công nghệ sau thu hoạch và xúc tiến thương mại. Một môi trường chính sách minh bạch, ổn định và có tính khuyến khích cao sẽ tạo ra niềm tin và động lực cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp tại Lý Nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện lý nhân tỉnh hà nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, kết cấu của luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Chƣơng 4: Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2015 - 2020. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu Thời gian qua, kể từ khi bƣớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đƣờng lối đổi mới của Đảng ở nƣớc ta, vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp với những mức độ khác nhau đã có nhiều công trình, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣ: Hội thảo khoa học tại Hội nghị lần thứ 8 của Ban Điều hành tháng 3 năm 2004, PGS. Bùi Bá Bổng đã có bài viết “Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới” [4] đã nêu lên những vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống cho khu vực nông thôn, tác giả đã nêu ra các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay và trong những năm tới. Nghiên cứu của TS. Đinh Phi Hổ trong cuốn sách "Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn" cho rằng nông nghiệp có đối tƣợng sản xuất là cây trồng và vật nuôi, ruộng đất đƣợc coi là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, hoạt động của lao động và tƣ liệu sản xuất có tính thời vụ, nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn, mang tính khu vực [14].

Nguyễn Trần Trọng, 2012 có bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” trên tạp chí Cộng sản [34] đã đề cập đến việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hƣớng kinh tế thị trƣờng. Cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, của TS. Phạm Ngọc Dũng, 2014, NXB Chính trị Quốc gia [8] đã làm rõ hơn về vai trò quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong phát triển 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bền vững; đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội ở nông thôn nƣớc ta cũng nhƣ nguyên nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nƣớc ta hiện nay, tác giả đã đƣa ra các giải pháp hợp lý có tính thực tiễn cao nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là “xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lƣợng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp… có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”. Trong cuốn sách Nông Dân, Nông Thôn và Nông Nghiệp - Những vấn đề đang đặt ra tác giả Đào Thế Tuấn và Đặng Kim Sơn [26] đã chỉ rõ: vấn đề nông dân và nông nghiệp ở nƣớc ta đã trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Đang có một thực tế là: nông dân chán ruộng và nhào ra thành phố. Nông thôn ngày càng mất đất, mất hết hồn vía của làng quê, trở thành bãi rác (với đủ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) của thành thị. Nông nghiệp còn lâu mới thoát ra khỏi tình trạng tiểu nông lạc hậu. Nguyên nhân của tình trạng đáng báo động này chủ yếu nằm ở phía chủ quan: chủ trƣơng, đƣờng lối và chính sách ở tầm vĩ mô của chúng ta đã có những sai lệch, khiếm khuyết, không đồng bộ hoặc không kịp thời.

Việc thực thi, nghị quyết và các kế hoạch cụ thể của toàn hệ thống cũng còn nhiều bất cập. Từ cách tiếp cận xã hội học và căn cứ vào thực trạng ở vùng đồng bằng sông Hồng các tác giả đã nhấn mạnh các giải pháp gắn liền mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bởi muốn phát triển bền vững thì phải xác định mục tiêu xã hội của tăng trƣởng kinh tế, gắn liền kinh tế với xã hội trong quá trình phát triển. Từ cách tiếp cận Kinh tế học, Giáo sƣ Đào Thế Tuấn và Tiến sĩ Đặng Kim Sơn đã đề xuất những giải pháp phát triển kinh tế nông thôn nhằm gắn kết một cách hữu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ giữa phát triển công nghiệp và phát triển nông nghiệp, giữa Đô thị và Nông thôn, giữa Bảo hộ sản xuất nông nghiệp và Hội nhập kinh tế toàn cầu. Trên Báo Điê ̣n tƣ̉ Chin ́ h phủ năm 2014 tác giả Đỗ Hƣơng có bài viết "Bài toán tái cơ cấu nông nghiệp - Nông nghiệp cần trụ đỡ chính sách" [33] đã nêu rõ Nông nghiệp Việt Nam đang trải qua một chặng đƣờng khó khăn, phải bƣớc những bƣớc gian nan trong sự phát triển nói chung của kinh tế nội địa.

Ngành nông nghiệp cũng đang phải tự “nâng cấp sức khỏe” của chính mình song song với những quyết sách mang tính thời cuộc nhằm bảo đảm lợi ích dài lâu cho hơn 70% dân số đang sống bằng nghề nông. Cùng với đó, “gánh nặng” của việc làm trụ đỡ của nền kinh tế vào thời điểm này cũng khiến những bƣớc tiến của nông nghiệp sẽ trở nên nặng nề hơn nếu không có một cột trụ dẫn đƣờng. Cột trụ này chính là một gói chính sách tổng thể xuất phát từ Đề án tái cơ cấu toàn ngành theo hƣớng phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng của nông sản. Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản số 854 ra 12/2013, GS.

Vƣơng Đình Huệ đã đƣa ra những gợi mở mang tính chiến lƣợc, có thể vắn tắt là: Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp cần hƣớng đến “giá trị tăng cao” và giải pháp cần tháo gỡ nhiều “nút thắt” [15]. Về mặt nội dung cần quan tâm, GS. Vƣơng Đình Huệ xác định: Cần thiết kế không gian với 5 nhóm quy hoạch, chuỗi ngành hàng, đối tƣợng tham gia kinh tế hộ trong đó coi trọng hộ sản xuất với quy mô lớn và giải pháp cần chú trọng đến các yếu tố đất đai, đầu tƣ, chuỗi giá trị thị trƣờng và dịch vụ công. Nhƣ vậy đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, Tuy nhiên đây đều là những nghiên cứu trên địa bàn rộng lớn chƣa có đề tài nào nghiên cứu sâu về phát triển kinh tế nông nghiệp trong phạm vi hẹp, cụ thể nhƣ phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông nghiệp 1. Một số khái niệm liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp 1. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi để tạo ra lƣơng thực, thực phẩm cho con ngƣời và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản.

Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản. Theo trình độ phát triển, ngành nông nghiệp có hai loại hình, gồm: + Nông nghiệp tự cung tự cấp: Ở trình độ này, nông nghiệp sử dụng các đầu vào hạn chế và sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ tiêu dùng tại chỗ cho chính gia đình của mỗi ngƣời nông dân. Không sử dụng cơ giới hóa và các tiến bộ kỹ thuật.

+ Nông nghiệp hàng hóa: Ở trình độ này, quá trình sản xuất nông nghiệp đƣợc chuyên môn hóa ở tất cả các khâu, gồm cả sử dụng máy móc, thiết bị cơ giới trong canh tác trồng trọt, chăn nuôi và trong chế biến sản phẩm tƣơi sống làm ra. Nông nghiệp hàng hóa sử dụng nguồn đầu vào lớn hơn so với nông nghiệp tự cung tự cấp, bao gồm các loại hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón hóa học, chọn lọc, áp dụng các giống mới và cơ giới hóa cao; sản phẩm làm đƣợc thƣơng mại hóa, bán ra trên thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu; sản xuất nông nghiệp hàng hóa tạo ra việc làm ở nhiều công đoạn nối tiếp nhau nên tạo việc làm và thu nhập cho nhiều ngƣời tham gia vào các công đoạn của quá trình này. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trƣởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lƣợng cuộc sống.

7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phát triển kinh tế nông nghiệp Phát triển kinh tế nông nghiệp đƣợc hiểu là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá trị sản lƣợng và sản lƣợng hàng hoá nông sản của ngành nông nghiệp cho nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò của nó trong việc thúc đẩy tăng trƣởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hƣớng hiện đại gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Phát triển kinh tế nông nghiệp dưới góc độ quản lý nhà nước Quản lý Nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng trong kinh tế nông nghiệp, vai trò này bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động lao động chung trên cơ sở xã hội hoá sản xuất và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Lực lƣợng sản xuất và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá càng cao thì càng cần thiết phải thực hiện vai trò này một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt.

Tuỳ theo trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất hàng hoá của nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định mà giữa các phân ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cũng nhƣ các yếu tố kinh tế của toàn ngành nông nghiệp có những mối quan hệ tỷ lệ phù hợp đảm bảo khai thác hợp lý các nguồn lực và phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ