Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lào Cai tăng cường lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2015 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Lào Cai trước năm 2000 1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội *Về điều kiện tự nhiên Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới, cách Thủ đô Hà Nội 338km về phía Tây Bắc, nằm ở toạ độ địa lý từ 21 40’56’’ đến 22 50’30’’ vĩ độ Bắc, 0 0 103 30’24’’ đến 104 38’21’’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp nước Cộng Hoà 0 0 Nhân Dân Trung Hoa với điểm cực Bắc thuộc xã Pha Long, huyện Mường Khương có toạ độ 22 50’30’’ vĩ độ Bắc, 104 14’35’’ kinh độ Đông.
Phía Nam 0 0 giáp tỉnh Yên Bái, với điểm cực Nam ở xã Nậm Tha huyện Văn Bàn có toạ độ 22 51’ vĩ độ Bắc, 103 48’53’’ kinh độ Đông. Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, 0 0 với điểm cực Đông là đỉnh Fansipan có toạ độ 22 13’03’’ vĩ độ Bắc, 0 104 38’21’’ kinh độ Đông. Phía tây giáp tỉnh Lai Châu với điểm cực Tây ở xã 0 Y Tý, huyện Bát Xát có toạ độ 22 36’ vĩ độ Bắc, 103 31’ kinh độ Đông [116, 0 0 tr. Địa hình Lào Cai thuộc khối nâng kiến tạo mạch, hai dãy núi chính là Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc – Đông Nam nằm về phía Đông và phía Tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình ở giữa hai dãy núi.
Bên cạnh đó, có nhiều dãy núi nhỏ phân bố đa dạng, chia cắt tạo thành những tiểu vùng khí hậu và sinh thái khác nhau. Dọc sông Hồng và Sông Chảy thuộc các đai độ cao thấp, địa hình ít hiểm trở, nhiều vùng đồi đất thoải, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 thung lũng, ruộng nước rộng là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp. Khí hậu của Lào Cai là kiểu khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mùa đông lạnh, biến động mạnh và phân hoá đa dạng. Do sự chênh lệch địa hình lớn giữa các vùng nên nền nhiệt giữa các vùng cũng có sự chênh lệch tương đối lớn.
Ở khu vực vùng núi, nhiệt độ trung bình thấp hơn các khu vực khác. Riêng huyện Sa Pa với độ cao 1.500m so với mực nước biển, nền nhiệt trung bình của Sa Pa là 15,3 c, nhiệt độ tháng cao nhất đạt 21,8 c, thấp nhất là 3,8 c. Vào thời điểm 0 0 0 giao mùa, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn từ 15 c đến 20 c 0 0 [116, tr. Do ảnh hưởng của chế độ gió mùa, khí hậu ở Lào Cai phân hoá thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô.
Lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian. Tại các vùng thấp và thung lũng dọc các con sông, lượng mưa trung bình khoảng 1. Tại các vùng có độ cao trên 1.400m ở sườn Đông của dãy Hoàng Liên Sơn và rải rác ở các đỉnh cao của dãy núi phía đông như Cao Sơn, Lùng Phình, Pha Long,… có lượng mưa trên 2. Độ ẩm không khí trong năm trung bình khoảng 82-89%, ở các vùng núi có nhiều cây rừng, mưa nhiều thì độ ẩm cao hơn, nơi có độ ẩm cao nhất là Sa Pa (89,5%).
Tổng lượng bốc hơi trung bình trong nhiều năm dao động từ 500 – 900mm. Số giờ nắng trung bình nhiều năm ở tỉnh Lào Cai khoảng 1. Hệ thống sông, suối được phân bố khá đều với hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy và hàng nghìn dòng chảy. Trong đó có 107 sông, suối dài từ 10km trở lên [43, tr.
Sự phong phú của các vành đai khí hậu tạo khả năng to lớn cho Lào Cai phát triển các đặc sản xứ lạnh như rau, hoa quả, thảo dược, cá nước lạnh. Đó cũng chính là lợi thế của Lào Cai mà các vùng khác không có được. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Lào Cai có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như rừng, đất đai, khoáng sản, nước. Đó chính là nguồn tiềm năng phát triển nền kinh tế toàn diện, vững chắc của Lào Cai.
Về đất đai, Lào Cai có diện tích tự nhiên rộng 638. Đất đai ở Lào Cai có độ phì cao, màu mỡ, đa dạng, bao gồm 30 loại đất, chia thành 10 nhóm: Đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alít trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ. Trong đó có một số nhóm đất có độ phì tự nhiên khá cao đang được sử dụng như: Nhóm đất phù sa, chiếm khoảng 1,47% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu dọc sông Hồng và sông Chảy, thích hợp đối với các loại cây lương thực, cây công nghiệp; nhóm đất đỏ vàng phân bố khắp địa bàn toàn tỉnh ở độ cao 900 m trở xuống, chiếm trên 40% diện tích tự nhiên, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây hằng năm. Nhóm đất mùn vàng đỏ, chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh.
Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh. Đồng thời, nhóm đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh. Nhóm đất mùn alit trên núi, chiếm 11,42% diện tích tự nhiên, tập trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn. có thảm rừng đầu nguồn khá tốt, thích hợp với một số loại cây như: Trúc cần câu, đỗ quyên, trúc lùn, rừng hỗn giao.
Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa, đây là các loại đất feralitic hoặc mùn feralitic ở các sườn và chân sườn ít dốc, được con người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt hoa màu, chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các huyện tạo nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp mà tiêu biểu là hai huyện Bắc Hà và Sa Pa. Có thể nói, đất đai ở Lào Cai đa dạng, phong phú, có độ phì tự nhiên khá cao, chất lượng đồng đều, là điều kiện thuận lợi cho việc trồng nhiều loại cây có giá trị kinh tế khác nhau, có thể phát triển thành các vùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 sản xuất hàng hóa tập trung. Với nguồn tài nguyên đất như vậy, Lào Cai không chỉ phát triển nền nông nghiệp đa dạng mà còn bảo tồn được sự đa dạng sinh học thực vật. Tài nguyên rừng, Lào Cai có 278.907 ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 229.296 ha rừng tự nhiên và 49.406 ha rừng trồng.
Rừng Lào Cai không chỉ có thảm thực vật rất phong phú mà còn có tính điển hình của thực vật. Theo thống kê, Lào Cai có 1.195 loài thực vật, trong đó có 22 loài thực vật đặc biệt quý hiếm (chiếm 50% số loài thực vật quý hiếm cả nước) như: Bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinh tùng, dẻ tràng, pơmu, thảo quả… [116, tr. Ngoài ra, Lào Cai còn có hàng trăm loại cây dược liệu, trong đó có nhiều loại quý hiếm có giá trị như tam thất, đẳng sâm, dương quy, đỗ trọng, xuyên khung, thục địa, hoàng liên, nấm Linh chi và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế, như đào, lê, táo, mận. Về động vật rừng, Lào Cai có 442 loài chim, thú, bò sát, thảm thực vật phong phú của rừng Lào Cai không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị kinh tế cao, đáp ứng được một phần nhu cầu về lâm sản cho cuộc sống hàng ngày của nhân dân địa phương.
Diện tích rừng và trữ lượng gỗ rừng tự nhiên khá lớn, cùng với thảm thực vật phong phú không chỉ là điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát triển kinh tế lâm nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp chế biến mà tạo thành nhiều khu rừng phòng hộ, rừng đặc chủng, rừng đầu nguồn còn có vai trò đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh, gìn giữ môi trường sinh thái, tạo cảnh quan thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người. Tài nguyên khoáng sản của Lào Cai khá dồi dào, là một trong những tiềm năng kinh tế lớn nhất của tỉnh. Đến nay đã phát hiện trên 150 mỏ, với 35 loại khoáng sản, trong đó có nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn và vừa, chất lượng cao như: mỏ Apatít trữ lượng trên 2,5 tỉ tấn, mỏ sắt Quý Sa trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ graplít ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 Nậm Thi trữ lượng 12,8 triệu tấn, mỏ Molipden ở Ô Quý Hồ trữ lượng 15,4 ngàn tấn. Ngoài những loại khoáng sản có trữ lượng lớn, Lào Cai còn có hàng chục loại khoáng sản quý hiếm như: Vàng, bạc, đá quý, chì, thiếc, kẽm, mangan, crôm, các loại thuộc nhóm vật liệu xây dựng như: Đất sét, đá vôi và nguyên liệu gốm, sứ, thuỷ tinh.
Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú kể trên là tiềm năng to lớn để Lào Cai phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến thành ngành công nghiệp mũi nhọn và phát triển ngành thủ công nghiệp truyền thống. Tài nguyên nước của Lào Cai cũng khá phong phú. Tỉnh Lào Cai có hệ thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy. Nước mặt có dòng chảy hàng năm khoảng 9,5 tỷ m , phân bố không đồng đều, phụ thuộc chủ yếu vào địa 3 hình, mưa, lớp phủ bề mặt đệm,… vào mùa kiệt khả năng khai thác tối đa là 0,9 tỷ m , trữ lượng nước mặt ngầm xấp xỉ 30 triệu m , trữ lượng động 4.4448 3 3 triệu m với chất lượng khá tốt, ít bị nhiễm khuẩn.
3 Nguồn tài nguyên nước dồi dào, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi.