Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2000 Chương 2. Đảng bộ huyện Nam Sách lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 Chương 3. Nhận xét và một số kinh nghiệm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NAM SÁCH ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Nam Sách và chủ trƣơng của Đảng bộ huyện 1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Nam Sách - Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Nam Sách là huyện nằm ở phía bắc của thành phố Hải Dương - Trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh Hải Dương, cách Thủ đô Hà Nội hơn 60 km về phía Tây, cách thành phố Hải Phòng 40 km về phía Đông. Nam Sách có diện tích tự nhiên là 132.270 ha, được giới hạn bởi tọa độ địa lý trong khoảng từ 20055 đến 21000’28” vĩ Bắc và 106017’ đến 106023’ kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Chí Linh; phía Đông giáp huyện Kinh Môn và huyện Kim Thành; phía Nam giáp thành phố Hải Dương; phía Tây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh). Toàn huyện có diện tích đất tự nhiên tính đến tháng 4 năm 1997 là 13.270 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 7.
Cơ cấu thành phần các loại đất chủ yếu như sau: Phân theo thành phần cơ giới của đất: Đất thịt nặng là 7.696,6 ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên; Đất thịt nhẹ là 1.592,4 ha, chiếm 12%; Các loại đất khác là 3. [58, tr 3] Như vậy, có thể khẳng định đất đai của huyện Nam Sách chủ yếu là là đất thịt nặng, ít chua có hàm lượng dinh dưỡng lân trung bình đến giàu, thích hợp để trồng nhiều loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai lang, các loại rau, đậu, đỗ, lạc và trồng một số loại cây ăn quả, các loại cây vụ đông như hành, tỏi,… Huyện Nam Sách về cơ bản cả bốn phía đều có sông bao bọc, gồm sông Thái Bình và sông Kinh Thầy. Do vậy, nguồn phù sa màu mỡ cộng với nguồn nước khá dồi dào, phục vụ hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, đây cũng là một khó khăn cho huyện do có nguy cơ ngập lụt về mùa mưa.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của huyện khoảng 1.770 mm, năm cao nhất lên tới 2.311 mm và năm thấp nhất là 1.264 mm và phân bố không đều theo thời gian. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8 (tháng 8 có lượng mưa cao nhất 476mm) nên thường gây ra tình trạng úng lụt vào những tháng này. Một số xã ven sông như Thái Tân, Thượng Đạt, Nam Tân, Nam Hưng, Minh Tân, Cộng Hòa… có nguy cơ ngập úng cao, nhiều năm chịu thiệt hại nặng nề trong sản xuất nông nghiệp. [88, tr 9] Bên cạnh đó, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa vào mùa hè và hanh khô vào mùa đông, cuối mùa thường có gió bão ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp là điều không tránh khỏi.
Mùa đông khô lạnh, có những ngày nhiệt độ xuống thấp xuất hiện sương muối gây tác động lớn tới sản xuất các loại cây vụ đông như: hành, tỏi, dưa hấu,… Qua khái quát điều kiện tự nhiên, có thể nói Nam Sách là một trong những huyện hội tụ được những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nông nghiệp của tỉnh Hải Dương. Đảng bộ huyện Nam Sách cũng đã từng bước đưa ra những chủ trương, chính sách tận dụng, phát huy tối đa những điều kiện thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu của điều kiện tự nhiên đến quá trình phát triên nông nghiệp trên địa bàn huyện. Trong xu thế chung của cả nước về hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, đảng bộ và nhân dân huyện Nam Sách đã và đang từng bước đưa nông nghiệp phát triển tương xứng với các huyện có nông nghiệp phát triển trong tỉnh Hải Dương nói riêng và trong khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung. Điều kiện kinh tế - xã hội: Nam Sách là huyện có lịch sử phát triển lâu đời, con người đến sinh cơ lập nghiệp khá sớm.
Đây là vùng quê đã sinh ra nhiều danh nhân văn hóa của đất nước: Lĩnh vực văn học nổi tiếng với hai trạng nguyên họ Mạc là Mạc Hiển Tích và Mạc Đĩnh Chi (người xã Nam Tân). Huyện Nam Sách còn nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng. Theo số liệu thống kê, Nam Sách có 125 tiến sỹ, nhiều nhất cả nước tính theo địa bàn 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp huyện, chiếm 25% tổng số tiến sỹ của cả tỉnh Hải Dương (Hải Dương là tỉnh đứng đầu cả nước về số người đỗ đạt cao với 498 tiến sĩ nho học, trong đó có 11 trạng nguyên, một người (Nguyễn Thị Duệ) hiện được coi là nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử dân tộc). Chỉ tính riêng ba triều đại Lý, Trần, Lê thì huyện Nam Sách đã có hơn 60 người thi đỗ đại khoa, góp phần làm rạng rỡ cho xứ Đông văn hiến.
Bên cạnh đó, Nam Sách cũng là địa phương có nhiều di tích lịch sử đền, chùa, miếu, trong đó có 11 di tích đã được Nhà nước xếp hạng, nổi bật là một số di tích như Chùa Trăm Gian (xã An Bình), Đền thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (xã Nam Tân), Đình thờ Phạm Chiêm, Đình Nhân Lý (Thị xã Chí Linh). [88, tr 17]Với cơ cấu dân số trẻ, Nam Sách có nguồn lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động năm 1997 là 69.107 người, chiếm khoảng 59,2% dân số toàn huyện. Tổng số lao động đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế là 59.404 người, chiếm 50,9% tổng dân số. Trong đó, lao động của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm khoảng gần 52,2% tổng lao động đang làm việc năm 1997.
Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt mức cao so với mặt bằng chung của tỉnh. Năm 1997, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 22% tổng lực lượng lao động đang làm việc. [58, tr 8] Như vậy, có thể thấy chất lượng lao động của Nam Sách còn khá thấp. Do đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới, đặc biệt khi đẩy mạnh phát triển khu vực công nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng lực lượng lao động của huyện cần tiếp tục được nâng lên (theo phương pháp phân loại lao động qua đào tạo mới) đòi hỏi huyện phải có giải pháp và kế hoạch để chuẩn bị lực lượng nhân lực sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Nhìn chung, người dân Nam Sách có truyền thống cần cù, chịu khó và có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, cây lương thực, cây thực phẩm cây công nghiệp, chăn nuôi). Trong thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh tế trang trại, gia trại… giúp người dân vươn lên làm giàu, xoá đói giảm nghèo. Đây là những nhân tố mới, thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển. Tuy nhiên, mặc dù nguồn lao động của huyện khá dồi dào, tỷ lệ lao động trong 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ tuổi có trình độ học vấn ở mức tương đối nhưng trình độ chuyên môn vẫn còn rất thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, vì vậy khi có nhu cầu về lao động có trình độ tay nghề cao sẽ gây ra khó khăn cho huyện.
Ngoài canh tác nông nghiệp, Nam Sách còn được nhắc đến với tư cách là một trong những huyện có thủ công nghiệp khá phát triển. Nam Sách có nhiều nghề thủ công truyền thống và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm khá nổi tiếng trong quá khứ như xã Phú Điền có nghề làm nồi, ấm đất nung; xã Quốc Tuấn có nghề làm hương; xã Minh Tân và Thái Tân còn có nghề dệt chiếu; đặc biệt nghề gốm sứ ở thôn Chu Đậu, xã Thái Tân. Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp, phục vụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài từ thời Lê. Ngoài ra, một số nghề truyền thống đang được phục hồi và phát triển.
Khu công nghiệp Nam Sách có vị trí địa lý thuận lợi, tập hợp các doanh nghiệp sản xuất tương đối lớn đã góp phần không nhỏ giải quyết vấn đề việc làm cho người dân địa bàn huyện. Những năm gần đây, tỉ trọng lao động sản xuất trong các ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng, lao động trong các ngành nông nghiệp, thủy sản có xu hướng giảm đi đáng kể. Điều này phù hợp với xu thế chung của toàn tỉnh và cả nước. Trong tương lai, đảng bộ huyện tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, đồng thời phát huy những thế mạnh về nguồn lao động, vị trí địa lý tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không chỉ ở các ngành công nghiệp mà còn chuyển biến nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Thực trạng nông nghiệp huyện trước năm 1997 Quý I năm 1997 ngoài việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, toàn huyện đã tập trung chỉ đạo và hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm thực hiện việc chia tách huyện Nam Thanh thành hai huyện Nam Sách và Thanh Hà. Từ ngày 1 tháng 4 năm 1997 huyện Nam Sách chính thức đi vào hoạt động theo địa giới hành chính mới. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính đến năm 1996, diện tích đất nông nghiệp toàn huyện Nam Thanh đạt 28.136,28 ha, trong đó diện tích trồng cây lương thực là 26. Trong số diện tích trồng cây lượng thực thì diện tích trồng lúa chiếm 24.
Như vậy, xét trong tổng số diện tích đất nông nghiệp thì diện tích trồng lúa chiếm đại đa số. Tính đến năm 1996 Nam Thanh vẫn là một huyện thuần nông, lấy lúa nước là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh việc phát triển lúa nước, trong những năm 1991-1996, Đảng bộ huyện đã chú trọng phát triển rau đậu, cây công nghiệp và cây ăn quả. Tính đến tháng 10/1996, kết quả gieo trồng cây rau màu, cây công nghiệp vụ đông của toàn huyện đạt: 1380 ha.
So với năm 1994, diện tích trồng cây rau màu, công nghiệp vụ đông đã tăng 90 ha (năm 1994 là 1290 ha).