Luận Văn Thạc Sĩ: Đảng Bộ Huyện Vân Đồn Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Từ Năm 1994 Đến Năm 2012

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện vân đồn tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1994 đến năm 2012, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

133
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN VÂN ĐỒN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 1994 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Những căn cứ để xác định

1.1.1. Khái quát về huyện Vân Đồn từ 1994 - 2005

1.1.1.1. Đơn vị hành chính

1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế của huyện Vân Đồn trước năm 1994

1.2. Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (1994-2005)

1.3. Đảng bộ Vân Đồn lãnh đạo phát triển kinh tế và kết quả thực hiện (1994-2005)

1.3.1. Chủ trương của Đảng bộ về phát triển kinh tế những năm 1994-2000

1.3.2. Đảng bộ Vân Đồn lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế những năm 2000-2005

1.3.3. Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN VÂN ĐỒN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ (2005-2012)

2.1. Điều kiện mới

2.1.1. Thành lập khu kinh tế Vân Đồn

2.1.2. Đặc điểm, chức năng, vai trò và tiềm năng của khu kinh tế Vân Đồn

2.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế (2005-2012)

2.3. Đảng bộ Vân Đồn lãnh đạo phát triển kinh tế, và tham gia xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn (2005 - 2012)

2.4. Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Vân Đồn

3.2. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kinh tế huyện Vân Đồn 1994 2012

Huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, đã trải qua nhiều biến đổi trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2012. Sự phát triển kinh tế của huyện không chỉ phản ánh sự thay đổi trong chính sách của Đảng mà còn là kết quả của những nỗ lực từ cộng đồng địa phương. Đặc biệt, việc thành lập huyện vào năm 1994 đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế. Các chính sách phát triển kinh tế đã được triển khai nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế của huyện.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển huyện Vân Đồn

Huyện Vân Đồn được thành lập vào năm 1994, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế của khu vực. Sự hình thành này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chính sách phát triển kinh tế địa phương.

1.2. Tình hình kinh tế xã hội trước năm 1994

Trước năm 1994, huyện Vân Đồn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thủy sản, với cơ sở hạ tầng còn hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của huyện.

II. Những thách thức trong phát triển kinh tế huyện Vân Đồn 1994 2012

Mặc dù có nhiều cơ hội, huyện Vân Đồn cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cạnh tranh từ các khu vực khác đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của huyện.

2.1. Cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế

Cơ sở hạ tầng của huyện Vân Đồn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Việc cải thiện hạ tầng giao thông, điện, nước là rất cần thiết để thúc đẩy phát triển.

2.2. Nguồn nhân lực và chất lượng lao động

Chất lượng nguồn nhân lực tại huyện Vân Đồn còn thấp, điều này gây khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Cần có các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động.

III. Các chính sách phát triển kinh tế huyện Vân Đồn 1994 2012

Đảng bộ huyện Vân Đồn đã triển khai nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong giai đoạn này. Các chính sách này tập trung vào việc phát triển các ngành kinh tế chủ lực, cải thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

3.1. Chính sách phát triển nông nghiệp và thủy sản

Chính sách phát triển nông nghiệp và thủy sản đã được chú trọng, nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Các chương trình hỗ trợ nông dân và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này đã được triển khai.

3.2. Đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ

Đầu tư vào hạ tầng giao thông, điện, nước và các dịch vụ công cộng là một trong những ưu tiên hàng đầu. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn thu hút đầu tư từ bên ngoài.

IV. Kết quả phát triển kinh tế huyện Vân Đồn 1994 2012

Kết quả phát triển kinh tế của huyện Vân Đồn trong giai đoạn này là rất đáng ghi nhận. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm luôn cao hơn mức trung bình của tỉnh Quảng Ninh. Sự phát triển này đã cải thiện đáng kể đời sống của người dân.

4.1. Tăng trưởng kinh tế và thu nhập

Mức tăng trưởng kinh tế của huyện Vân Đồn đạt khoảng 10% mỗi năm, với thu nhập bình quân đầu người tăng lên rõ rệt. Điều này cho thấy sự phát triển kinh tế đã mang lại lợi ích cho người dân.

4.2. Cải thiện đời sống xã hội

Sự phát triển kinh tế đã giúp cải thiện đời sống xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và các dịch vụ công cộng. Người dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của huyện Vân Đồn

Huyện Vân Đồn đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế từ năm 1994 đến 2012. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, huyện cần phải giải quyết các thách thức hiện tại và tận dụng tốt các cơ hội trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Huyện Vân Đồn cần xác định rõ các ngành kinh tế mũi nhọn và tập trung phát triển các lĩnh vực này. Việc cải thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong phát triển kinh tế

Cộng đồng địa phương cần được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế. Sự đồng lòng và nỗ lực của người dân sẽ góp phần quan trọng vào thành công của các chính sách phát triển.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện vân đồn tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1994 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Đảng bộ huyện Vân Đồn lãnh đạo phát triển kinh tế (1994 – 2005) Chƣơng 2 : Đảng bộ huyện Vân Đồn lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế (2005-2012) Chƣơng 3: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VÂN ĐỒN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 1994 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Những căn cứ để xác định: 1.1 Khái quát về huyện Vân Đồn từ 1994 - 2005 1.1 Đơn vị hành chính: Tên Vân Đồn lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Việt Nam, từ thời Lý, vào năm 1149, Đại việt sử ký toàn thƣ viết của Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê viết: “Năm Kỷ Tỵ, hiệu Đại Định năm thứ 10 (1149, đời Lý Anh Tông) mùa xuân tháng hai, thuyền buôn các nƣớc Qua Oa( Gia Va), Lộ lạc ( bùng hạ lƣu sông Mê Nam), Xiêm La (Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông (Quảng Ninh ngày nay) xin cƣ trú để buôn bán, bèn lập trang ở các nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, buôn bán các hàng hóa quý giá,dâng phƣơng vật lên vua” [76, Tr.6] Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, huyện Vân Đồn ngày nay thuộc châu Cẩm Phả (bao gồm thị xã Cẩm Phả nay là Thành phố Cẩm Phả và huyện Vân Đồn ngày nay). Ngày 19 tháng 7 năm 1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 269-NV/NĐ tạm lập lại tỉnh Quảng Yên và khu Đặc biệt Hòn Gai, Uỷ ban Hành chính khu Đặc biệt Hòn Gai, chịu quyền điều khiển, kiểm soát trực tiếp của Uỷ ban Hành chính Bắc Bộ. Khu Đặc biệt Hòn Gai gồm: Cẩm Phả bến, Cẩm Phả mỏ , Hà Tu, Hà Lầm, Hòn Gai, Bãi Cháy và châu Cẩm Phả (gồm có đảo Cái Bầu và phố Ba Chẽ). Tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tháng 3-1947, Bộ Nội vụ ra Quyết định sáp nhập khu Đặc biệt Hòn Gai với tỉnh Quảng Yên Thành Liên tỉnh Quảng Hồng.

Huyện Vân Đồn ngày nay ở thời điểm đó thuộc Liên tỉnh Quảng Hồng. Ngày 26 tháng 12 năm 1948, Uỷ ban kháng chiến Hành chính Liên khu I ra Quyết định số 420-TGY, chia Liên tỉnh Quảng Hồng thành tỉnh Quảng Yên và Khu Đặc biệt Hòn Gai gồm thị xã Hòn Gai, thị xã Cẩm Phả và huyện Cẩm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngày 22 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 22/SL thành lập khu Hồng Quảng trên cơ sở hợp nhất khu Đặc biệt Hòn Gai và Tỉnh Quảng Yên (trừ các huyện: Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách và Sơn Động sáp nhập trở lại tỉnh Hải Dƣơng và Bắc giang). Huyện Cẩm Phả thuộc khu Hồng Quảng Ngày 30 tháng 10 năm 1963, Quốc hội nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa Quyết nghị.

Phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là tỉnh Quảng Ninh. Ngày 16 tháng 7 năm 1964, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 198-NV, sát nhập xã Cô Tô và xã Thanh Lân (trƣớc kia trực thuộc Uỷ ban Hành chính tỉnh Quảng Ninh quản lý) vào huyện Cẩm Phả. Ngày 16 tháng 9 năm1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 185-CP, sáp nhập xã Thắng lợi thuộc thị xã Cẩm Phả vào huyện Cẩm Phả. Ngày 16 tháng 1 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 17-CP giải thể xã Văn Châu sáp nhập vào xã Cộng Hoà, chuyển đất đai dân cƣ xã Cộng Hoà (Văn Châu, Cộng Hoà) về thị xã Cẩm Phả, sáp nhập xã Cộng Hoà của huyện Cẩm Phả vào thị xã Cẩm Phả.

Ngày 10 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trƣởng ra Quyết định số 63- HĐBT, giải thể xã Tân Hải, sáp nhập vào xã Ngọc Vừng, giải thể xã Thạch Hà sáp nhập vào xã Đông Xá và xã Hạ Long, thành lập thị trấn Cái Rồng. Ngày 16 tháng 4 năm 1988, Hội đồng Bộ trƣởng ra Quyết định số 62- HĐBT hợp nhất xã Vạn Yên và xã Vạn Hoa thành xã Vạn Yên. Ngày 23 tháng 03 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP về “Thành lập huyện Cô Tô và đổi tên huyện Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh thành huyện Vân Đồn”. Nhƣ vậy, sau 30 năm sáp nhập vào huyện Cẩm Phả, Cô Tô và Thanh Lân lại tách ra thành một đơn vị hành chính của huyện Cô Tô, và huyện Cẩm Phả đổi tên thành huyện Vân Đồn.

Huyện Vân Đồn có 11 xã, 01 thị trấn nằm trên hai quản đảo; Quần đảo Vân hải có 5 xã: Quan Lạn, Bản Sen, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngọc Vừng, Thắng Lợi, Minh Châu, với 7.944 ngƣời, mật độ dân số 29 ngƣời/ km2: quần đảo Cái bầu có 6 xã : Bình Dân, Đoàn Kết, Vạn Yên, Đài Xuyên, Đông xá, Hạ Long và Thị Trấn cái Rồng. Thị Trấn Cái Rồng: Phía tây bắc giáp xã Đoàn Kết, phía đông bắc giáp xã Hạ Long, phía tây nam giáp xã Đông Xá, phía đông nam giáp xã đảo Bản Sen, Minh Châu. Về dân số: Tính đến hết tháng 8 năm 2008, toàn thị trấn Cái Rồng có 9 khu; 8.073 nhân khẩu với 1.Theo tỷ lệ dân số, thị trấn Cái Rồng có lực lƣợng lao động tƣơng đối dồi dào. Số lao động trong độ tuổi là 5.651 ngƣời chiếm 70% tổng nhân khẩu.

Lao động đang làm việc phân theo ngành nhƣ sau: Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp 300 ngƣời chiếm 5,30% tổng lao động; Lao động trong công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ 4.666 ngƣời chiếm 82,56%; Lao động làm trong các cơ quan hành chính sự nghiệp (giáo dục, y tế, quản lý nhà nƣớc…) khoảng 685 ngƣời chiếm 12,12% tổng số lao động của thị trấn. Thị trấn Cái Rồng là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của huyện Vân Đồn. * Dân cư, lao động Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2010, dân số Vân Đồn là 43.290 ngƣời, chiếm 4% dân số tỉnh Quảng Ninh. Trong đó nam chiếm 49,9 %, nữ chiếm gần 50,1%.Nhƣ vậy ,huyện Vân Đồn luôn có số lƣợng nữ cao hơn nam.

Tốc độ tăng tự nhiên cho cả thời kỳ 2000-2010 khoảng 1,2-1,3%/năm và ngày càng giảm đi. Đó là kiểu kết cấu dân số của vùng phát triển ngành nông nghiệp, dịch vụ. Vân Đồn có 8 dân tộc sinh sống trên các vùng đồi núi, đồng bằng ven biển và các đảo. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khá cao: 86,6%, ngƣời Sán Dìu 10%, ngƣời Hoa 1,5%, ngƣời Dao 1,3%, ngƣời Sán Chỉ, ngƣời Tày.

Đại đa số dân sống ở vùng nông thôn chiếm 81,82%, bình quân 4,7 ngƣời/hộ. Dân đô thị chiếm 18,18% trung bình 4,1 ngƣời/hộ. Mật độ dân số là 29 ngƣời /km2 nhƣng phân bố không đồng đều. Vùng đô thị, rất đông dân (thị Trấn Cái Rồng 748 ngƣời/km2; xã Hạ Long 94 ngƣời/km2, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã Đông Xá 105 ngƣời/km2…)Trong khi đó các xã đảo thì dân cƣ rất thƣa thớt nhƣ xã Ngọc Vừng là 37 ngƣời /km2; xã Bản Sen là 7 ngƣời/ km2 Dân số huyện Vân Đồn có kết cấu trẻ.Dân số trong độ tuổi lao động (18- 60) chiếm 40,3% dân số huyện.

Số lao động trong ngành nông-lâm-ngƣ nghiệp chiếm 87%. Trong số này, lao động trong ngành thuỷ sản chiếm 26%. Công nghiệp và xây dựng chiếm 6,4%. Thƣơng mại và dịch vụ chiếm 6,6%.

Về mức sống: năm 2007 : GDP bình quân đầu ngƣời của huyện đạt 7,2 triệu đồng bằng 58% mức bình quân của tỉnh và 65% mức bình quân cả nƣớc. Tỷ lệ nghèo đói cao, tổng số hộ nghèo theo tiếu chí mới là 1.102 hộ, chiếm tỷ lệ 14,6%.2 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế của huyện Vân Đồn trước năm 1994 *Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý: Huyện Vân Đồn là một huyện của tình Quảng Ninh, có tọa độ địa lý nằm trong khoảng 20040’ đến 21016’ Vĩ độ Bắc, 107015’ đến 108000’ Kinh Đông, đƣợc hợp thành bởi hai quần đảo Cái Bầu (còn gọi là Kế Bào) và quần đảo Vân Hải, với hơn 600 hòn đảo (đất, đá) lớn, nhỏ xen lẫn nhau trên Vịnh Bái Tử Long. Ở Phía Bắc và Đông Bắc của huyên giáp huyện Tiên Yên và Đầm Hà;Phía Đông Nam giáp huyện Cô Tô, phía Tây giáp thành phố Cẩm Phả và thành phố Hạ Long. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.620,83 km2, có 68% diện tích đất tự nhiên trên các đảo là rừng và đất rừng trong đó đất nổi là 59.

Trong tổng số 600 hòn đảo thuộc huyện thì có hơn 20 đảo có ngƣời ở. Lớn nhất là đảo Cái Bầu rộng 17.212 ha, ở giáp địa phận thành phố Cẩm Phả. Địa hình: Là huyện ít sông suối, chỉ có một sông lớn là sông Voi Nhớn dài 18 km, đồi núi nhiều, chủ yếu là núi đá vôi độ cao từ 200-300m. Địa hình thấp dần từ phía Đông sang phía Tây, độ cao trung bình 40m so với mực nƣớc.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các đảo đều có địa hình núi đá vôi, thƣờng chỉ cao 200 - 300 m so với mặt biển, có nhiều hang động. Cũng giống nhƣ tất cả các đảo trong vịnh Bắc Bộ các đảo của huyện Vân Đồn vốn trƣớc kia là các đỉnh núi của phần thềm lục địa, ở vị trí Tây Bắc vịnh Bắc bộ, phần kéo dài của dãy núi Đông Triều. Sau thời kỳ biển tiến, hình thành vịnh Bắc Bộ, các đỉnh núi này còn sót lại, nằm nổi trên mặt biển thành các đảo độc lập thuộc hai vùng của vịnh Bắc Bộ là vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Các đảo thuộc huyện Vân Đồn chỉ là một phần trong quần đảo Tây Bắc vịnh Bắc Bộ.

Các ngọn núi trên các đảo của huyện tiêu biểu có núi Nàng Tiên, ở đảo Trà Bản, trên địa phận xã Bản Sen, cao 450 m; núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397 m. Do địa hình là quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, lại là núi đá vôi, nên trong toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất liền không lớn, chủ yếu là diện tích mặt biển. Khí hậu: Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8 gió Đông Nam từ biển thổi vào mát mẻ. Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, khí hậu lạnh do ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc thổi về; vì vậy, hay gây ra sƣơng mù, lƣợng mƣa trung bình trong năm ở khu vực đảo Cái Bầu là 1.748mm, ở đảo Bản Sen quần đảo Vân Hải là 2.

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 220C, độ ẩm không khí bình quân 84%. Vì đây là vùng đảo nên từ xƣa đến nay Vân Đồn chƣa bao giờ phải đối phó với hiện tƣợng lũ lụt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ