Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm - Khái niệm nông nghiệp: Theo tác giả Spedding (1979) đã định nghĩa nông nghiệp như sau: “Nông nghiệp là một loại hoạt động của con người được tiến hành chủ yếu để sản xuất ra lương thực, sợi, chất đốt cũng như nhiều loại nguyên liệu khác bằng sự cân nhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi”. [1] - Hộ nông dân: Theo tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu mức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào thị trường và có xu thế hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất.
Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung. Mọi quyết định trong sản xuất - kinh doanh và đời sống tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển. [2] - Khái niệm về phát triển. Theo Raul năm 1989: hộ là những người có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng.
[2] n 5 - Phát triển bền vững. Theo hội nghị thưởng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Riode Janeiro năm 1992 đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là: Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. (Kinh tế phát triển nông thôn) [3] - Khái niệm về tăng trưởng. Tăng trưởng là sự gia tăng của cải vật chất được biểu hiện bằng sự gia tăng của một hoặc nhiều chỉ tiêu kinh tế, hoặc của cả nền kinh tế quốc dân trong một thời gian, được đánh giá bằng chỉ số % tăng thêm của tổng thu nhập hàng năm hay từng thời kỳ.
Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân - Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có ngành công nghiệp phát triển cao, nông nghiệp chiếm GDP không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống của con người những sản phẩm cần thiết đó là lương thực, thực phẩm.
Trong xã hội hiện đại ngày nay mặc dù khoa học - công nghệ phát triển cao nhưng vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được ngành nông nghiệp. Lương thực, thực phẩm là yếu tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Cung cấp các yếu tố đầu vào cho việc phát triển công nghiệp. Được biểu hiện rõ nhất qua hai yếu tố sau: + Khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp là dự trữ nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị.
n 6 + Nông nghiệp còn cung cấp các nguồng nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến. - Làm thị trường tiêu thụ của ngành công nghiệp và dịch vụ. Nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của ngành công nghiệp. Hầu hết các nước đang phát triển dân số khu vực nông thôn là phần lớn nên thị trường tiêu thụ ở khu vực nông thôn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình tái sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp.
- Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu. Nông nghiệp được coi là ngành thu nhập ngoại tệ lớn vì các sản phẩm nông nghiệp dễ dàng gia nhập vào thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. - Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường. Nông nghiệp, nông thôn có vai trò to lớn trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên như: đất đai, khí hậu, thủy văn.
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, có những giải pháp thích hợp thì sẽ tác động một cách tích cực góp phần phát triển bền vững môi trường. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống (cây trồng và vật nuôi). Cây trồng vật, nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt, được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp các sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu cho chu trình sau.
- Sản xuất nông nghiệp có tính vùng. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính chất khu vực rõ rệt. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu khác nhau cho nên đặc điểm của sản xuất nông nghiệp của mỗi vùng cũng khác nhau. n 7 - Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu.
Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất và trong sản xuất nông nghiệp cũng vậy, trồng cây, làm chuồng trại… Không thể thiếu đất được. - Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn bó với điều kiện tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất sen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp vào với nhau nên sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.
Các kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm trong nước * Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan vốn là nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp thái lan trong hàng thập kỷ qua có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đamt cho cuộc sống của người dân. Để thúc đẩy cho sự phát triển bền vững nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: -Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp, giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. - Đối với các sản phẩm nông nghiệp, nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị ra ngoài, nhà nước Thái Lan còn tính toán phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình n 8 trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái, giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ canh tác.
- Về xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà nước đã có chiến lược cho xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước… Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp, chính phủ thái lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu. Cụ thể Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông, thủy hải sản phục vụ cho xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau: • Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của bộ nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản trong đó có các mặt hàng: Gạo, tôm sú, gà, cà phê. • Chính sách đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chính phủ thái lan thường xuyên thực hiện các chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “năm an toàn thực phẩm và thái lan n 9 là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng về sinh an toàn thực phẩm. Do đó ngày nay thực phẩm chế biến của thái lan được nhiều người tiêu dùng ở các thị trường khó tính như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, và EU chấp nhận. • Mở của thị trường khi thích hợp, chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh.