Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KCN bền vững Chương 2. Thực trạng phát triển các KCN theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình Chương 3. Quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các KCN theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Lý luận chung về phát triển khu công nghiệp bền vững 1. Khu công nghiệp 1. Khái niệm a) Khu chế xuất Sau chiến tranh thế giới thứ II, vào thập kỷ 60, các khu chế xuất (KCX) được thành lập ở nhiều nước nhằm tạo ra một khu vực chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có vị thế mới, độc lập so với chế độ mậu dịch và thuế quan của nước nhận đầu tư.
Thuật ngữ KCX được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Điển hình nhất là định nghĩa của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) và của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA) Theo quan điểm của Tổ chức công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) trong tài liệu “KCX tại các nước đang phát triển” (Export Processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì “KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miến thuế’’[18] Theo quan điểm của Hiệp hội KCX thế giới (World Export Processing Zone Association – WEPZA) “KCX không chỉ bao gồm khu vực công nghiệp chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mà còn bao gồm cả những khu vực được chính phủ cho phép thành lập và hoạt động như khu cảng tự do, khu tự do thuế quan, khu mậu dịch tự do, khu quá cảng…”. Như vậy theo khái niệm này, KCX đã được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ cho phép như khu cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu phi thuế quan, KCN tự do, khu 7 ngoại thương tự do, những khu vực được miễn thuế.
Do nhu cầu phát triển các mối quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng cũng như xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình CNH hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển, khái niệm này được bổ sung bằng những quan điểm mới như khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế. KCX là mô hình kinh tế mà các nước đang phát triển, nhất là các nước châu Á đã sử dụng như một công cụ tích cực nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Thông qua việc sử dụng mô hình KCX, các nước đang phát triển đã tìm thấy ở đó giải pháp trung gian phù hợp, cho phép chuyển mạnh nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu. Mô hình KCX đã từng là một thực thể kinh tế năng động, phản ánh những biện pháp kinh tế, chính sách, luật pháp đặc biệt nhằm tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty xuyên quốc gia, từng bước đưa các nước đang phát triển hòa nhập vào nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, không phải tất cả các KCX được thành lập tại các nước đều hoạt động hiệu quả, mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số KCX đã thất bại, cụ thể như: - Cạnh tranh gay gắt về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài do có quá nhiều KCX được thành lập ở một số nước gần nhau, tập trung với mật độ cao trong một khu vực có những điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý gần giống nhau. - Không dễ đạt được các mục tiêu xuất khẩu, tạo nhiều công ăn việc làm, lợi dụng được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài - Các KCX phải cạnh tranh khốc liệt trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ ở nước ngoài do yêu cầu của việc tăng xuất khẩu hàng hóa và nguồn thu ngoại tệ trong khi bị khép kín theo quy chế KCX đối với thị trường nội địa, nơi có nhu cầu tiêu thụ tương đối lớn. Nhìn chung các KCX có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế của nhiều nước đang phát triển. Tuy nhiên, do xu hướng tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư 8 ngày càng tăng nên vai trò của mô hình KCX đã giảm dần, nhường bước cho mô hình mới thích hợp hơn.
b) Khu công nghiệp Để khắc phục những hạn chế của mô hình KCX, nhiều nước đã chuyển sang xây dựng một loại hình kinh tế uyển chuyển hơn, năng động hơn, đó là mô hình KCN. Sự thay đổi này phù hợp với xu thế phát triển và mở cửa của nền kinh tế thị trường và quan hệ hợp tác kinh tế hiện đại. Với mô hình KCN, thị trường nội địa trở thành yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, hứa hẹn tiềm năng tiêu thụ rất lớn so với những sản phẩm của các KCX vốn tương đối giống nhau cả về chủng loại và chất lượng. Điều này có tác dụng đẩy lùi, hạn chế hàng nhập lậu từ bên ngoài, đồng thời kích thích cạnh tranh, nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, mô hình KCN với chính sách mở rộng thị trường nội địa ở các nước nhận đầu tư là phù hợp với xu hướng tự do mậu dịch khu vực và thế giới. Hiện nay trên thế giới có hai loại mô hình KCN chính, điều này tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước: - Mô hình thứ nhất: khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở….Loại hình này về thực chất là những khu hành chính – kinh tế. Điển hình cho mô hình này là các KCN ở Thái Lan và một số nước Tây Âu. - Mô hình thứ hai: khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống.
Điển hình cho mô hình KCN này là các KCN ở Singapo, Đài Loan. KCN ở Việt Nam ra đời cùng với đường lối đổi mới, mở cửa do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 khởi xướng. Theo Nghị định 36-CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ ban hành Quy chế KCN, KCX, KCNC: KCN được xác định là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, 9 không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. KCN ở Việt Nam là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường.
Thực tiễn phát triển KCN ở Việt Nam cho thấy KCN là một loại hình kinh tế đặc biệt, có tính đặc thù là sử dụng nhiều đất đai, thời gian tồn tại lâu dài, có ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường. Từ việc nghiên cứu và tham khảo các tài liệu trong nước và của nước ngoài, có thể đi đến một khái niệm mang tính tổng quát về KCN, phù hợp với điểu kiện của Việt Nam: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. phục vụ cho tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập, được hưởng những ưu đãi thích hợp về sản xuất, xuất khẩu hàng hóa, có CSHT thuận lợi, đảm bảo phục vụ cho việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ liên quan, bảo đảm sự phát triển bền vững. Đặc trưng của KCN Có thể thấy rằng khái niệm KCN là một khái niệm động, nó gắn liền với các điều kiện cụ thể của nơi nó hình thành và phát triển.
Theo cách hiểu đó, có thể thấy KCN có những đặc trưng sau: - KCN là khu tập trung tương đối nhiều xí nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất. Vì vậy, các xí nghiệp này có điều kiện thuận lợi để tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. - Các xí nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế riêng của nhà nước và địa phương sở tại. Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển.
- KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các doanh nghiệp hoạt động. - Khả năng hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp với nhau trong KCN tùy thuộc vào sự liên kết với nhau giữa chúng trong quá trình phát triển để đạt được hiệu quả cao. 10 - KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và có thể được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào cứng. Không có dân cư trong KCN.
- Hoạt động chính trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp. Tiêu chí của KCN Thông qua khái niệm và đặc trưng của KCN, các tiêu chí để hình thành một KCN bao gồm: - KCN phải do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập - KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. - KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống. - Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất, đó là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Phát triển bền vững 1.