Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn phát triển kinh tế tại trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước giai đoạn 2006 - 2009 cho thấy nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng kỹ thuật, sản xuất công nghiệp và an sinh xã hội là vô cùng cấp thiết. Trước thực trạng các ngân hàng thương mại chủ yếu tập trung nguồn vốn ngắn hạn từ 3 đến 7 năm, Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói chung và Sở Giao dịch II nói riêng giữ vai trò công cụ kinh tế đắc lực của Chính phủ nhằm lấp đầy khoảng cách cung cầu vốn dài hạn. Tính đến ngày 31/12/2008, Sở Giao dịch II đã quản lý tổng quy mô dư nợ đạt trên 23.000 tỷ đồng, bao gồm hơn 150 dự án vay vốn trong nước với giá trị hợp đồng tín dụng trên 35.000 tỷ đồng và 56 dự án vay lại nguồn vốn ODA với dư nợ đạt 20.769,068 tỷ đồng.

Tuy nhiên, hoạt động của đơn vị trong giai đoạn chuyển đổi từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển sang mô hình Ngân hàng Phát triển theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn. Tiến độ giải ngân vốn tín dụng đầu tư trong nước năm 2008 chỉ đạt 237,753 tỷ đồng, tương đương 61,14% kế hoạch điều chỉnh; tỷ lệ dự án được phê duyệt cho vay mới qua thẩm định chỉ đạt 15% (3/20 dự án); trong khi tỷ lệ nợ quá hạn tính cả các dự án chỉ định chính sách tăng lên mức 4,63%.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích thực trạng vận hành 4 nghiệp vụ trụ cột: cho vay tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng và tín dụng hỗ trợ xuất khẩu tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tỉnh lân cận trong thời gian từ ngày 19/05/2006 đến ngày 19/05/2009. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp đơn vị nâng cao năng lực thẩm định, thúc đẩy giải ngân an toàn, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố với tỷ trọng dịch vụ đạt 51,7% và công nghiệp - xây dựng đạt 47,5% vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết các định chế tài chính phát triển (Development Financial Institutions - DFI) và lý thuyết thất bại thị trường trong phân bổ vốn đầu tư dài hạn. Theo các lý thuyết kinh tế học công cộng, các dự án kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục và công nghiệp mũi nhọn thường mang lại tỷ suất sinh lời tài chính thấp nhưng tạo ra giá trị thặng dư xã hội to lớn, khiến các ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận không sẵn sàng tài trợ. Mô hình định chế tài chính nhà nước vận hành theo nguyên tắc phi lợi nhuận, lấy thu bù chi và bảo toàn vốn được áp dụng để giải thích cơ chế can thiệp bằng tín dụng ưu đãi.

Khung lý thuyết của đề tài làm rõ năm khái niệm cốt lõi:

  1. Ngân hàng phát triển là tổ chức tín dụng nhà nước thực hiện chính sách tài trợ vốn trung và dài hạn phục vụ chiến lược kinh tế - xã hội.
  2. Cho vay tín dụng đầu tư phát triển với hạn mức tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư tài sản cố định và thời hạn vay từ 12 đến 15 năm theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP.
  3. Hỗ trợ sau đầu tư là hình thức cấp bù chênh lệch lãi suất với mức 3,5%/năm đối với tiền đồng Việt Nam và 0,96%/năm đối với ngoại tệ sau khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác.
  4. Bảo lãnh tín dụng đầu tư và bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại với mức phí 0,5%/năm theo Quyết định 14/2009/QĐ-TTg.
  5. Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu với mức cho vay tối đa 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu nhằm thúc đẩy kim ngạch ngoại tệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ bảng cân đối tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo thẩm định và theo dõi thu hồi nợ của Sở Giao dịch II từ tháng 5/2006 đến tháng 5/2009. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 56 dự án cho vay lại nguồn vốn ODA, 20 hồ sơ dự án đầu tư xin vay mới, 109 dự án thụ hưởng chính sách hỗ trợ sau đầu tư và hơn 50 hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn thương mại. Phương pháp chọn mẫu toàn thể kết hợp chọn mẫu điển hình theo nhóm ngành then chốt (giao thông, cấp nước, điện lực, bệnh viện, trường học) được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ bức tranh tín dụng chính sách tại khu vực kinh tế phía Nam.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp định tính, so sánh chuỗi thời gian giữa chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh và kết quả thực hiện thực tế. Phương pháp này được lựa chọn vì tính chính xác cao trong việc đo lường khoảng cách giải ngân, tỷ lệ thu hồi nợ gốc - lãi, cũng như định lượng tác động của chính sách tiền tệ và khung pháp lý đến từng nghiệp vụ ngân hàng phát triển trong giai đoạn nghiên cứu 3 năm liên tục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2006 - 2009 tại Sở Giao dịch II ghi nhận bốn phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu dư nợ có sự tập trung rất lớn vào kênh vốn quốc tế nhưng tăng trưởng cấp tín dụng đầu tư trong nước mới còn chậm. Tổng dư nợ toàn sở đạt trên 23.000 tỷ đồng, trong đó danh mục 56 dự án ODA chiếm tới 20.769,068 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng áp đảo xấp xỉ 88% tổng dư nợ tín dụng). Ngược lại, công tác thẩm định cho vay đầu tư dự án mới trong nước gặp nhiều trở ngại: trong số 20 dự án tiếp nhận thẩm định (17 dự án mới, 2 dự án chuyển tiếp, 1 dự án thẩm định lại), chỉ có 3 dự án được phê duyệt cấp tín dụng, đạt tỷ lệ khiêm tốn 15%. Giá trị giải ngân vốn đầu tư năm 2008 chỉ đạt 237,753 tỷ đồng, tương đương 61,14% kế hoạch được giao.

Thứ hai, nghiệp vụ hỗ trợ sau đầu tư và tín dụng xuất khẩu đã phát huy mạnh mẽ vai trò kích hoạt dòng vốn xã hội. Lũy kế đến ngày 31/12/2009, Sở Giao dịch II đã thực hiện hỗ trợ sau đầu tư cho 109 dự án, thu hút tổng vốn đầu tư phát triển đạt 4.030 tỷ đồng, trong đó vốn huy động từ xã hội đạt 2.281 tỷ đồng và các tổ chức tín dụng thương mại tham gia 1.749 tỷ đồng; doanh số cấp hỗ trợ đạt 67,378 tỷ đồng (riêng năm 2009 cấp 10,840 tỷ đồng, đạt 99,90% kế hoạch). Ở mảng hỗ trợ xuất khẩu năm 2008, doanh số giải ngân đạt 1.597 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch), số thu nợ gốc đạt 2.750 tỷ đồng (đạt 106% kế hoạch) và thu lãi đạt 76,739 tỷ đồng.

Thứ ba, triển khai nghiệp vụ mới theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ghi nhận phản hồi tích cực nhưng còn mất cân đối giữa các phân khúc. Đơn vị đã tiếp nhận hơn 50 bộ hồ sơ, thẩm định và cấp chứng thư bảo lãnh cho 18 trường hợp với tổng giá trị bảo lãnh trên 175 tỷ đồng, tuy nhiên có đến 17 trường hợp là phương án sản xuất kinh doanh ngắn hạn và chỉ có 1 trường hợp là dự án đầu tư tài sản cố định. Riêng nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư truyền thống không ghi nhận hồ sơ thực hiện thành công do trùng lặp điều kiện vay trực tiếp.

Thứ tư, chất lượng tín dụng phân hóa sâu sắc giữa dự án thẩm định độc lập và các chương trình cho vay theo chỉ định của Chính phủ. Tỷ lệ nợ quá hạn thông thường của đơn vị duy trì ở mức rất thấp là 0,27% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên, khi tính gộp các chương trình chỉ định chính sách, tỷ lệ nợ quá hạn vọt lên mức 4,63%. Điển hình là Chương trình đóng tàu đánh bắt hải sản xa bờ gồm 17 dự án vay 41,281 tỷ đồng để đóng mới 30 con tàu, dư nợ đến ngày 31/12/2008 là 21,810 tỷ đồng thì nợ quá hạn lên tới 16,927 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 77,6% tổng dư nợ của chương trình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ trong tiến độ giải ngân (chỉ đạt 61,14% - 63% kế hoạch trước điều chỉnh) xuất phát từ thủ tục chuẩn bị đầu tư xây dựng cơ bản của các chủ đầu tư còn rườm rà, thiếu sự chuẩn bị về nguồn vốn tự có tối thiểu 15%. Bên cạnh đó, biến động kinh tế vĩ mô năm 2008 buộc cơ chế điều hành tín dụng phải thay đổi nhiều lần để kiểm soát lạm phát, khiến nhiều dự án phải tính toán lại phương án tài chính. Sự thất bại tại chương trình đánh bắt xa bờ (nợ quá hạn 77,6%) phản ánh rõ nét hạn chế của việc đầu tư dàn trải thiếu quy hoạch ngư trường và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu leo thang.

Các phát hiện trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu dư nợ với 88% tỷ trọng thuộc về khối ODA và 12% khối tín dụng trong nước; kết hợp biểu đồ cột so sánh tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu nợ gốc giữa nhóm dự án ODA (102,14%) và hỗ trợ xuất khẩu (106%); cùng bảng ma trận phân tích rủi ro tách biệt nợ quá hạn thông thường (0,27%) với nợ quá hạn dự án chỉ định (4,63%). Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu tài chính phát triển quốc tế tại các định chế như Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ) hay Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB), khẳng định rằng nếu thiếu hụt cơ chế thẩm định độc lập và bù đắp rủi ro thị trường, tín dụng chính sách sẽ đối mặt với nguy cơ nợ xấu rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện mô hình và phát triển toàn diện hoạt động của Sở Giao dịch II trong chu kỳ kinh tế tiếp theo, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất như sau:

Thứ nhất, chuẩn hóa và rút ngắn quy trình thẩm định dự án đầu tư. Ban Giám đốc và Phòng Tín dụng Sở Giao dịch II cần hoàn thiện sổ tay thẩm định kỹ thuật - tài chính chuyên sâu, rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ từ 45 ngày xuống dưới 25 ngày làm việc. Giải pháp này đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hồ sơ vay vốn được phê duyệt khả thi từ mức 15% hiện tại lên tối thiểu 35% đến 40% trong giai đoạn 2010 - 2012, bảo đảm hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch giải ngân vốn tín dụng đầu tư được giao hàng năm.

Thứ hai, đa dạng hóa công cụ huy động nguồn vốn trung và dài hạn tại chỗ. Sở Giao dịch II cần chủ động kiến nghị cơ chế phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu công trình được Chính phủ bảo lãnh; đồng thời đẩy mạnh thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ Quỹ Bảo hiểm Xã hội và các định chế tài chính. Mục tiêu đặt ra là gia tăng quy mô nguồn vốn huy động bình quân vượt mốc 1.500 tỷ đồng/năm (tăng trên 60% so với mức 893,783 tỷ đồng năm 2008) trước năm 2012, với tỷ trọng vốn có kỳ hạn ổn định duy trì trên 80%.

Thứ ba, thiết lập quy chế đồng tài trợ và liên kết bảo lãnh với hệ thống ngân hàng thương mại. Lãnh đạo đơn vị cần chủ động ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện với tối thiểu 5 ngân hàng thương mại lớn tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm chia sẻ rủi ro thẩm định, tận dụng nguồn vốn thương mại để phát triển nghiệp vụ hỗ trợ sau đầu tư (hưởng mức chênh lệch 3,5%/năm) và bảo lãnh vay vốn theo Quyết định 14/2009/QĐ-TTg, phấn đấu nâng quy mô phát hành chứng thư bảo lãnh đạt trên 500 tỷ đồng/năm vào năm 2011.

Thứ tư, xử lý dứt điểm nợ đọng chính sách và nâng cao năng lực trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Đơn vị cần phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Tài chính phân loại, khoanh nợ, xử lý tài sản thế chấp đối với khoản nợ quá hạn 16,927 tỷ đồng tại chương trình đóng tàu xa bờ theo Quyết định 89/2003/QĐ-TTg. Song song đó, duy trì trích lập quỹ dự phòng rủi ro 2% từ nguồn thu lãi hàng năm để giữ vững tỷ lệ nợ quá hạn tổng thể dưới ngưỡng an toàn 1,5% trong giai đoạn 2010 - 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

  1. Ban điều hành và cán bộ tín dụng Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Cung cấp bài học thực tiễn trong công tác quản lý danh mục ODA trị giá 20.769,068 tỷ đồng và kinh nghiệm triển khai gói bảo lãnh doanh nghiệp 175 tỷ đồng, giúp tối ưu hóa quy trình kiểm soát chi và quản trị rủi ro nợ vay.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, UBND TP.HCM): Khai thác dữ liệu thực tế về tiến độ giải ngân (đạt 61,14% kế hoạch) và cơ chế chênh lệch lãi suất hỗ trợ sau đầu tư 3,5%/năm để điều chỉnh khung pháp lý tín dụng đầu tư sát với biến động thị trường.
  3. Doanh nghiệp và chủ đầu tư các dự án phát triển, xuất khẩu: Nắm vững các điều kiện pháp lý, quy chuẩn vốn tự có tối thiểu 15%, mức vay tối đa 70% tổng mức đầu tư cố định và cơ chế cho vay xuất khẩu 85% giá trị hợp đồng để chủ động tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước.
  4. Giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu tài chính công: Khai thác kho tư liệu thực chứng về mô hình định chế tài chính phát triển tại Việt Nam, phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về tài trợ dự án hạ tầng, đồng tài trợ tín dụng và phòng ngừa nợ xấu chính sách.

Câu hỏi thường gặp

Sở Giao dịch II - Ngân hàng Phát triển Việt Nam giữ vai trò gì đối với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh? Đơn vị đóng vai trò cung cấp nguồn vốn trung dài hạn ưu đãi cho hàng loạt công trình hạ tầng then chốt như Nhà máy nước Thủ Đức công suất 300.000 m3/ngày, đường dây 500kV Phú Mỹ - Nhà Bè - Phú Lâm, Bệnh viện Bình Dân; đồng thời quản lý danh mục ODA 20.769,068 tỷ đồng, trực tiếp thúc đẩy dịch chuyển tỷ trọng ngành dịch vụ thành phố lên 51,7% năm 2010.

Điều kiện cụ thể để dự án được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là gì? Dự án phải thuộc danh mục ban hành kèm Nghị định 151/2006/NĐ-CP, bảo đảm đầy đủ thủ tục xây dựng cơ bản và có phương án tài chính hoàn vốn khả thi. Chủ đầu tư phải có năng lực quản lý và sở hữu mức vốn tự có tham gia tối thiểu bằng 15% tổng mức đầu tư tài sản cố định của dự án.

Nghiệp vụ hỗ trợ sau đầu tư mang lại lợi ích tài chính ra sao cho chủ dự án? Chủ đầu tư tự vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện dự án; sau khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng và trả được nợ gốc - lãi, Ngân hàng Phát triển sẽ cấp bù chênh lệch lãi suất 3,5%/năm đối với tiền đồng Việt Nam và 0,96%/năm đối với ngoại tệ. Nghiệp vụ này đã giải ngân 67,378 tỷ đồng cho 109 dự án.

Vì sao chương trình đóng tàu đánh bắt xa bờ lại phát sinh tỷ lệ nợ quá hạn lên tới 77,6%? Chương trình triển khai 17 dự án với tổng vốn vay 41,281 tỷ đồng để đóng 30 tàu. Tình trạng nợ quá hạn 16,927 tỷ đồng xảy ra do đầu tư dàn trải, thiếu quy hoạch vùng đánh bắt dẫn đến ngư trường cạn kiệt, kết hợp với chi phí nhiên liệu tăng cao khiến ngư dân thua lỗ và mất khả năng thanh toán nợ gốc.

Tín dụng đầu tư phát triển khác biệt thế nào so với tín dụng ngân hàng thương mại thông thường? Tín dụng đầu tư nhà nước hoạt động phi lợi nhuận nhằm thực hiện mục tiêu chính sách xã hội, cho vay vốn dài hạn từ 12 đến 15 năm với mức lãi suất ưu đãi căn cứ theo lãi suất trái phiếu Chính phủ 5 năm cộng 0,5%/năm, trong khi ngân hàng thương mại chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn từ 3 đến 7 năm theo lãi suất thị trường.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của định chế tài chính phát triển trong việc giải quyết khoảng cách cung cầu vốn trung dài hạn tại nền kinh tế đang phát triển.
  • Khẳng định đóng góp to lớn của Sở Giao dịch II qua việc quản lý hơn 23.000 tỷ đồng tổng dư nợ, tài trợ hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm và kích hoạt 4.030 tỷ đồng vốn xã hội qua hỗ trợ sau đầu tư.
  • Làm rõ các rào cản nội tại khiến tỷ lệ giải ngân mới chỉ đạt 61,14% kế hoạch năm 2008 và phân tích nguyên nhân nợ quá hạn 77,6% tại chương trình chỉ định đóng tàu xa bờ.
  • Đề xuất đồng bộ bốn nhóm giải pháp hành động: cải tiến quy trình thẩm định dưới 25 ngày, nâng quy mô huy động vốn vượt 1.500 tỷ đồng, liên kết bảo lãnh với ngân hàng thương mại và trích lập dự phòng 2% để kiểm soát nợ xấu dưới 1,5%.
  • Xác lập lộ trình chuyển giao tài liệu nghiên cứu cho các cơ quan hoạch định chính sách công và đề xuất các đơn vị quản lý tín dụng triển khai ngay khung liên kết đồng tài trợ trong giai đoạn 2010 - 2015. Các cơ quan quản lý, định chế tài chính và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các mô hình thẩm định và giải pháp từ luận văn để nâng cao hiệu quả quản trị tín dụng đầu tư phát triển.