Chương 1: Những cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Qũy tín dụng nhân dân. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Qũy tín dụng nhân dân CNm Thành, huyện CNm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của quỹ tín dụng nhân dân CNm Thành, huyện CNm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ PHÁT TRIỂ HOẠT ĐỘ G CHO VAY KHÁCH HÀ G CÁ HÂ CỦA QUỸ TÍ DỤ G 1. Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của quỹ tín dụng 1. Khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân Có khá nhiều khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân và mỗi quốc gia sẽ có những định nghĩa khác nhau riêng Việt Nam thì Quỹ tín dụng nhân dân có thể hiểu như sau: Theo khoản 6 điều 4 của luật các tổ chức tín dụng vào năm 2010 Qũy tín dụng nhân dân. [2] “Qũy tín dụng nhân dân là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.” Theo quy định của Luật hợp tác xã tại khoản 1 điều 3 vào năm 2012 thì Qũy tín dụng.
[7] “Qũy tín dụng nhân dân là một trung gian tài chính theo mô hình hợp tác xã khu vực tư nhân. Việc gia nhập thành viên là không hạn chế và tự nguyện. Tổ chức này thuộc về thành viên, là những người quản lý một cách dân chủ. Vì vậy, đây là nơi giáo dục về kinh tế và hợp tác xã của thành viên.” Và theo như nội dung của nghị định của chính phủ về tổ chức hoạt động của QTDND số 48/2001/NĐ-CP.
[1] “Qũy tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là phải bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.” Như vậy ta có thể hiểu rằng QTDND cũng chính là một trung gian tài chính được hoạt động dưới hình thức hỗ trợ, huy động các nguồn vốn bằng cách nhận tiền của những người gửi và cho vay của chính những thành viên gửi tiền này với mục đích giúp các thành viên trong và ngoài Qũy thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu 4 quả, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cho các thành viên đồng thời cũng tối đa hóa những lợi ích của Qũy tín dụng nhân dân dành cho các thành viên thông qua các phương thức như tiết kiệm hay cho vay hoạt động theo những quy tắc riêng biệt. Đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân Trụ sở Qũy tín dụng nhân dân được xây dựng trên các địa bàn xã, phường, các cụm kinh tế có đủ điều kiện về mặt kinh tế mà còn là một tổ chức bao gồm những người trên cùng một địa bàn, cùng tập quán, quan hệ hàng xóm gần gũi ,…là một đơn vị độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nơi giao dịch với khách hàng và thành viên. Qũy tín dụng nhân dân cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng.
Để thấy được rằng QTDND là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực huy động, cho vay và các dịch vụ ngân hàng khác. Qũy TDND để thực hiện được các mục tiêu phải tạo ra được các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, Qũy cần phải có định hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu là: hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải sinh lời. Không những vậy, việc quản lý và điều hành hoạt động của Qũy TDND phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, tự chịu trách nhiệm cũng như bình đẳng đóng góp ý kiến để xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ thể phù hợp với thực tế đơn vị.
Mục tiêu của quỹ tín dụng nhân dân Có thể nói rằng khi thành lập một doanh nghiệp thì mục tiêu hoạt động chủ yếu là nguồn lợi nhuận mang lại. Tuy nhiên chúng ta có thể biết đến loại hình doanh nghiệp như Qũy tín dụng nhân dân lại hoạt động nhưng không đặt lợi nhuận lên trên hết mà thay vào đó QTDND ra đời vì mục đích là giúp đỡ các thành viên và thúc đNy sự phát triển cộng đồng. Mặt khác QTDND vNn đảm bảo hoạt động để có thể chi trả cho các thành viên và quan trọng hơn nữa là duy trì và đưa hoạt động của Qũy ngày càng vươn lên trong thời gian tới. Sở dĩ nói như vậy bởi lẽ trong các loại hình tổ chức tín dụng khác, như các NHTM mục tiêu hoạt động nhằm tìm kiếm một nguồn lợi nhuận cao nhất mang lại cho các cổ đông thì QTD hoạt động với mong muốn rằng giúp đỡ các thành viên phục vụ 5 thành viên tốt hơn cung cấp những gì tốt nhất và các dịch vụ tiện ích hiệu quả hơn.
Và để cho việc hiệu quả kinh doanh Qũy ngày càng mở rộng và có khả năng cạnh tranh được với các tổ chức tín dụng khác hoạt động trên cùng một địa bàn nhằm thu hút các thành viên góp vốn và sự tham gia ngày một nhiều hơn của các thành viên. Và nếu rời xa mục tiêu tương trợ thành viên như đã đặt ra đó thì hoạt động của QTDND sẽ theo đuổi các mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần và sẽ phải đối mặt với các tình trạng như sau: Một không đưa mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì QTD sẽ phải mạo hiểm hơn trong các phương án đầu tư, bỏ qua một số các nguyên tắc quản lý và các quy định về đảm bảo sự an toàn trong các hoạt động nào đó có thể dẫn đến sự rủi ro và tình trạng như vậy có thể làm cho QTDND phá sản và dấn đến đổ vỡ. Hai là chạy theo con số lợi nhuận như vậy thì QTDND sẽ rời xa đối tượng phục vụ mà rõ ràng ngay từ đầu Qũy đã hướng đến là các thành viên của QTDND bởi lẽ đây là tệp khách hàng nhỏ lẻ, chi phí vay lớn, mang lại hiệu quả thấp. Ba là Qũy rời xa mục tiêu đặt ra đó thì Qũy sẽ không thể phát huy được những điểm mạnh ưu thế vốn có của loại hình tổ chức tín dụng hợp tác.
Vì vậy củng khó hợp có thể phát triển tồn tại và cạnh trạnh được với các ngân hàng thương mại lớn như hiện nay. Vì vậy Qũy tín dụng nhân dân có thể nói đáp ứng được những yêu cầu cung cấp vể các mảng dịch vụ tài chính ngân hàng một cách tiện ích, thường xuyên và ổn định lâu dài với mức giá hợp lý nhất để các thành viên có thể nâng cao mang lại sự hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh và từ đó mang lại lợi nhuận nguồn thu cao nhất đối với chính mình chứ không phải nhằm mục tiêu thu được lợi tức vốn góp cao nhất từ các hoạt động của Qũy tín dụng nhân dân. Đồng thời đoàn kết giữa các thành viên phát huy được truyền thống sức mạnh tập thể góp phần đòn bNy kinh tế - xã hội đi lên, tạo cho người dân có được một công việc ổn định, xóa đói giảm nghèo và hạn chế các tình trạng tín dụng đen như cho vay nặng lãi trên địa phương. Song, mặc dù vậy thì QTDND cũng sẽ đảm bảo đủ trang trải những chi phí đã bỏ ra, và phải có sự tích lũy để Qũy không ngừng mở rộng quy mô trên các địa bàn lân cận nhằm hỗ trợ tạo điều kiện hết sức đối với các thành viên về lâu về dài với các điều kiện ngày càng thuận lợi hơn, chi phí thích hợp cũng như mang lại nguồn chất lượng tốt hơn.
Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân Cùng với sự đổi mới của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, mô hình QTDND đã phần nào khẳng định vai trò của mình trong từng địa phương và cộng đồng xã hội. Sự hình thành của Qũy tín dụng xuất phát và hình thành hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện và giúp đỡ nhau của các thành viên cùng nhau góp vốn. Các thành viên sẽ có thêm các điều kiện tiếp cận các sản phNm, dịch vụ của thị trường tín dụng ngân hàng. Và Qũy mang đến những thuận lợi cho dân cư và đóng góp vai trò hết sức quan trọng trong nền nông nghiệp hóa được thể hiện ở các khía cạnh như sau: - Phải nói Qũy tín dụng đã phần nào thúc đNy sự phát triển cho mỗi khu vực ở mỗi địa phương trong việc thu hút và điều hòa nguồn vốn có hiệu quả.
Ở mỗi giai đoạn khác nhau QTDND được biết đến là kênh dẫn nguồn vốn có hiệu quả, không chỉ huy động trực tiếp các nguồn lực nhàn rỗi của người dân để từng bước hoàn thiện tự chủ về nguồn vốn như tạo vốn góp cổ phần của thành viên, huy động tiền gửi và còn tiếp cận các nguồn vốn khác như đi vay, nhận vốn ủy thác… để mở rộng quy mô, vừa giải quyết được những khó khăn phục vụ cho việc sản xuất và tiêu dùng tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho các thành viên. Có thể thấy Qũy không chỉ mang lại lợi ích về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt xã hội. Phát huy được sức mạnh nội lực của người nông dân trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đNy lùi các tệ nạn xã hội như tín dụng đen, góp phần đảm bảo an ninh chính trị góp phần tích cực vào việc ổn định thị trường tiền tệ, công bằng xã hội ở khu vực của mỗi địa phương.