CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh là một loại hình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa những năm 1960 ở Mỹ; vào đầu những năm 1970, nghiệp vụ này bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Cho đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (kể cả trong các giao dịch tài chính và phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại) nên vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố và mở rộng không ngừng, hầu hết các giao dịch lớn trong phạm vi nội địa cũng như trên phạm vi quốc tế đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng.
Vậy bảo lãnh ngân hàng là gì? Có thể nhìn nhận bảo lãnh ngân hàng dưới các góc độ khác nhau: Xét theo khía cạnh học thuật, thì bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “tín dụng chữ ký“ (Signature Credit), là hoạt động không dùng đến vốn của ngân hàng. Xét theo khía cạnh thương mại quốc tế, thì bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh do sự vi phạm nghĩa vụ của phía đối tác. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 (khoản 18, Điều 14), thì “Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết“. Vậy bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng) với bên nhận bảo lãnh (bên có quyền) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; và khách hàng được bảo lãnh phải trả nợ cho bên bảo lãnh số tiền mà bên bảo lãnh đã trả thay đó.
Các thành phần tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh: 6 1. Người bảo lãnh (The Guarantor). Là người phát hành bảo lãnh (Ngân hàng, TCTD. Người được bảo lãnh (The Principal).
Là người yêu cầu bảo lãnh 3. Người thụ hưởng (The Beneficiary). Là người nhận cam kết bảo lãnh 1. Một số đặc điểm cơ bản của bảo lãnh ngân hàng 1.
Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương Một nghiệp vụ bảo lãnh luôn tồn tại 3 mối quan hệ của ba chủ thể: bên bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh, và bên được bảo lãnh. Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là mối quan hệ thương mại- mối quan hệ cơ sở cho việc thực hiện bảo lãnh, qua mối quan hệ này bên bảo lãnh xem xét có thể đứng ra bảo lãnh hay từ chối. Xuất phát từ hợp đồng cơ sở, nhằm hạn chế rủi ro cho người thụ hưởng (bên nhận bảo lãnh) thì ngân hàng sẽ phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của người được bảo lãnh. Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên ngân hàng bảo lãnh là mối quan hệ giữa khách hàng nhận tín dụng và ngân hàng cấp tín dụng.
Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là mối quan hệ đảm bảo bằng uy tín và khả năng tài chính. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập Trong một hợp đồng bảo lãnh thường có ba hợp đồng độc lập: Hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh ( Underlying contract) gọi là hợp đồng cơ sở. Đây là nguồn gốc để hình thành nên hai hợp đồng còn lại. Hợp đồng giữa người yêu cầu bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh, cụ thể là đơn xin bảo lãnh đã được xét duyệt.
Thư bảo lãnh (Letter of guarantee) là hợp đồng giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng ( bên nhận bảo lãnh). Mỗi bên trong từng hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng mặc dù chúng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau. Nội dung thư bảo lãnh được xây dựng trên 7 nền tảng những điều khỏan trong hợp đồng cơ sở nhưng về mặt pháp lý, thư bảo lãnh có giá trị riêng tách rời khỏi cơ sở hình thành nó. Việc xác định đúng bản chất pháp lý của bảo lãnh ngân hàng là cơ sở phân định cơ cấu chủ thể của nó.
Dựa trên các biểu hiện bên ngoài, việc bảo lãnh có ba bên: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Nhưng xét về mặt pháp lý quan hệ bảo lãnh chỉ đòi hỏi bắt buộc 2 bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Có thể nói rằng việc tham gia ký kết của bên được bảo lãnh không là không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh, mặc dù cam kết của bên được bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lãnh sau khi họ thực hiện nghĩa thay cho mình là cơ sở để người bảo lãnh đưa ra cam kết bảo lãnh. Theo quy định thì cam kết bảo lãnh được đưa ra và chấp nhận giữa hai bên là người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh.
Còn việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh được quy định như sau: khi người bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ với mình trong phạm vi đã bảo lãnh, nếu không có thỏa thuận khác. Như vậy bên được bảo lãnh là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp đồng bảo lãnh mà không phải là bên đóng vai trò thiết lập hợp đồng bảo lãnh là bên bắt buộc ký hợp đồng bảo lãnh. Về mặt nguyên tắc các bên có thể ký hợp đồng gồm 3 bên: là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Tuy nhiên do bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh không phải là các chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lãnh, nên họ không có các quyền nghĩa vụ tương ứng như quan hệ giữa người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh.
Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh thưa kiện lẫn nhau, thì tư cách của họ không phải là tư cách của các bên ký hợp đồng bảo lãnh mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người được bảo lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh. Khi ngân hàng thực hiện bảo lãnh thì các quan hệ sau đây phát sinh: - Quan hệ bảo lãnh giữa ngân hàng với bên nhận bảo lãnh - Quan hệ dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng ( bên được bảo lãnh) phát sinh do thỏa thuận giữa các bên trong việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng với TCTD.1: Quan hệ dịch vụ bảo lãnh Bên có quyền ( Bên nhận bảo lãnh) Ngân hàng Quan hệ bảo lãnh ( Bên bảo lãnh) Bên đi vay ( Bên được bảo lãnh) 1. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trọ thông qua uy tín của các TCTD. Khi phát hành một cam kết bảo lãnh, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không hề bị thay đổi vì ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh.
Vì vậy bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên khi khách hàng thực hiện đúng những cam kết đã ghi trong hợp đồng bảo lãnh ngân hàng thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên nhận bảo lãnh. Khi đó nghiệp vụ bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản của ngân hàng, khoản chi phí chi trả cho bên thụ hưởng này được xếp vào loại tài sản “ xấu” trong nội bảng và cơ cấu thành nợ quá hạn. Chính vị vậy bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản vay và đòi hỏi phải được giám sát kỹ, quản lý chặt chẽ như các hình thức cấp tín dụng khác.
Bảo lãnh ngân hàng được tiên hành trên cơ sở chứng từ Ngân hàng hoạt động chủ yếu trên cơ sở chứng từ, hầu hết các hoạt động truyền thống hay các sản phẩm mới của Ngân hàng đều phải căn cứ vào cơ sở chứng từ. Hoạt động bảo lãnh cũng không là ngoại lệ. Người thụ hưởng chỉ cần xuất trình đầy đủ các chứng từ hợp lý và hợp pháp thì ngay lập tức ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình. Tất cả mọi giao dịch đều phải có chứng từ làm căn cứ ra quyết định đảm bảo tính an toàn cao nhất.
Các loại bảo lãnh ngân hàng Tùy theo những tiêu thức khác nhau mà bảo lãnh được chia thành các loại khác nhau 1.Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (hay bảo lãnh bổ sung) Bảo lãnh đồng nghĩa vụ là loại bảo lãnh truyền thống, trong đó ngân hàng bảo lãnh và bên được bảo lãnh được xem là có cùng nghĩa vụ. Tuy nhiên, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh chỉ là nghĩa vụ bổ sung. Nghĩa vụ bổ sung chỉ được thực hiện khi có bằng cứ xác nhận rằng nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm. Bảo lãnh đồng nghĩa vụ đòi hỏi ngân hàng bảo lãnh phải can thiệp khá sâu vào giao dịch hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Do vậy, nó chủ yếu được sử dụng trong phạm vi nội địa mà ít được sử dụng trong quan hệ quốc tế. Bảo lãnh độc lập Bảo lãnh độc lập là loại bảo lãnh hiện đại, trong đó nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh và của bên được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau. Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thoả thuận. Tuy nhiên tính độc lập của loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà phụ thuộc vào các điều kiện thanh toán đã được quy định trong văn bản bảo lãnh giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh độc lập đem lại sự thuận lợi lớn cho bên nhận bảo lãnh và cả ngân hàng bảo lãnh, do vậy nó được sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế. Hiện nay, hầu hết các quy định về bảo lãnh trong lĩnh vực quốc tế đều chỉ quan tâm đến loại bảo lãnh này.