CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP 1. CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm công nghiệp Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Theo Từ điển tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm. Từ hai khái niệm trên cho thấy, công nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuất, bắt đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tách đối tượng lao động ra khỏi thiên nhiên và hoạt động chế biến các tài nguyên có được từ khai thác, làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu ban đầu, biến chúng thành những sản phẩm tương ứng hoặc nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của con người. Ở đây, chúng ta chưa thấy đề cập đến ngành công nghiệp sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt; đây là hoạt động không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nó xuất hiện sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Chính vì vậy, tác giả đồng quan điểm với các tác giả cuốn “Kinh tế và quản lý công nghiệp” (1997), công nghiệp gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên tạo 9 ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật); sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; các ngành sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt.
Như vậy, công nghiệp khai thác là khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp, nó tác động vào đối tượng lao động và tách đối tượng này ra khỏi tự nhiên để làm nguồn đầu vào cho công nghiệp chế biến. Tiếp theo đó, chính công nghiệp chế biến làm biến đối các nguyên liệu ban đầu để chế tạo ra các sản phẩm cuối cùng phục vụ nhu cầu đa dạng của đời sống con người hoặc chế tạo ra các nguyên liệu tiếp theo, là nguồn đầu vào cho các ngành công nghiệp khác. Cuối cùng là họat động sửa chữa, nó giúp khôi phục, kéo dài thời gian sử dụng của các thiết bị, máy móc và sản phẩm. Đặc điểm Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, nó có những đặc điểm về kinh tế, kỹ thuật và xã hội.
- Đặc điểm kinh tế: công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực trong nền kinh tế quốc dân sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Theo mức độ phát triển đi lên của nền kinh tế, công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu nền kinh tế và sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. - Đặc điểm kỹ thuật: công nghiệp là ngành ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ, với nhiều máy móc thiết bị; công nghiệp cũng là ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất cho ngành mình và các ngành khác trong nền kinh tế. - Đặc điểm xã hội: công nghiệp là ngành có mức độ xã hội hóa cao, lực lượng lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tính tổ chức - kỷ luật cao.
Công nghiệp càng phát triển, tính chuyên môn hóa cũng sẽ 1 phát triển tương ứng, do vậy tính xã hội hóa và quốc tế hóa trong sản phẩm công nghiệp là phổ biến. Phân loại công nghiệp - Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia công nghiệp thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất; theo đó có 2 nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Đối với các nước đang phát triển, việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu. - Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: người ta chia công nghiệp thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Việc phân loại này có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. - Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất: người ta chia công nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật – công nghệ, hoặc cùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tự nhau. Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dưa trên cân đối liên ngành. - Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia công nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Việc phân chia này có ý nghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia. 1 - Dựa vào quy mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ. Việc phân chia này là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ. Phát triển công nghiệp 1.
Những xu hướng phát triển công nghiệp ở một tỉnh nông nghiệp Phát triển công nghiệp là tất yếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với xu thế chung mang tính phổ biến là: khi giá lao động rẻ và tài nguyên phong phú thì các ngành sử dụng nhiều lao động và khai thác tài nguyên sẽ phát triển; khi trình độ công nghệ và lao động được nâng lên, các ngành có hàm lượng công nghệ và vốn cao sẽ phát triển. Tuy vậy, để thúc đẩy tiến trình phát triển đúng hướng và hiệu quả, cần xác định rõ những xu hướng phát triển cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của công nghiệp. Ở một tỉnh nông nghiệp còn nhiều hạn chế, xu hướng phát triển công nghiệp chủ yếu là: Thứ nhất, khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó có các ngành nghề thủ công truyền thống ở nông thôn, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ và phục vụ chế biến sản phẩm của nông nghiệp. Đây là những ngành nghề truyền thống vốn có, sản phẩm được sản xuất ra phục vụ thiết thực cho sản xuất và đời sống của dân cư; chi phí đầu tư không lớn, kỹ thuật chủ yếu là thủ công nên có khả năng thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm, sớm tăng thu nhập cho dân cư.
Khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp theo hướng tăng cường việc dạy nghề, truyền nghề, hình thành và mở rộng các làng nghề, xã nghề, vùng nghề; đồng thời từng bước hiện đại hoá kỹ thuật thủ công, công nghệ truyền thống theo hướng vừa tinh xảo, vừa hiện đại; duy trì và phát triển các đặc sản truyền thống địa phương. 1 Thứ hai, phát triển công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương, bao gồm công nghiệp chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Các xí nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, được đặt ngay tại vùng nguyên liệu, tận dụng nguồn nguyên liệu tại địa phương. Các sản phẩm từ nông, lâm, ngư nghiệp được chế biến không chỉ nhằm tiện ích trong bảo quản và vận chuyển, tiêu dùng mà còn làm tăng giá trị sản phẩm, qua đó kích thích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực sẵn có tại địa phương, được thiên nhiên ban tặng cho con người. Việc khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển, giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách. Thứ ba, phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, bao gồm các ngành sản xuất các loại tư liệu sản xuất thông thường và sửa chữa tư liệu sản xuất phục vụ nhu cầu địa phương. Cùng với quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nhu cầu trang bị các loại tư liệu sản xuất từ kim loại và sữa chữa máy móc, thiết bị tăng lên nhanh chóng.
Tuy không hình thành các trung tâm lớn nhưng ở quy mô toàn tỉnh nhưng ngành công nghiệp sửa chữa tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn. Thứ tư, phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng trên cơ sở khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có, phục vụ nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhu cầu xây dựng của các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Thứ năm, hình thành và phát triển các cơ sở công nghiệp gia công hoặc các cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp lớn ở trong và ngoài nước. Đây là hướng phát triển nhằm giải quyết vấn đề lao động chưa có việc làm của địa phương; đồng thời tranh thủ vốn, kỹ thuật - công nghệ tiên 1 tiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý và đào tạo nghề cho người lao động, chuẩn bị tiền đề cho việc hình thành và phát triển các ngành công nghiệp mới và hiện đại trong tương lai.
Thứ sáu, phát triển công nghiệp trên cơ sở huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội, bao gồm các cơ sở sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, được triển khai theo nhiều quy mô, nhiều trình độ khác nhau, từ kỹ thuật thô sơ đến hiện đại; vừa đi ngay vào hiện đại đồng thời vừa tận dụng những cơ sở hiện có.