Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục và đào tạo được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong việc bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước. Tỉnh Nam Định thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng lâu đời. Sau khi tái lập tỉnh vào năm 1996 (tách ra từ tỉnh Nam Hà), Đảng bộ và chính quyền địa phương đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, cơ sở hạ tầng còn hạn chế và nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục còn khiêm tốn. Việc vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối phát triển giáo dục của Trung ương vào điều kiện thực tiễn địa phương trong giai đoạn 2005 - 2015 là nhân tố quyết định đến sự chuyển biến của ngành giáo dục tỉnh.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Hồng Nhung tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong mười năm (2005 - 2015). Đề tài xác định rõ mục tiêu tổng quát và 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục và đào tạo tại tỉnh Nam Định.
  2. Phân tích, làm rõ chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng đường lối của Đảng để chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015.
  3. Đánh giá những thành tựu, hạn chế và đúc rút các bài học kinh nghiệm nhằm làm cơ sở tham khảo cho công tác lãnh đạo phát triển giáo dục trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015. Về phạm vi không gian, đề tài thực hiện trên địa bàn 10 đơn vị hành chính của tỉnh Nam Định (gồm thành phố Nam Định và 9 huyện: Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu). Về phạm vi thời gian, khóa luận tập trung giai đoạn 2005 - 2015, có liên hệ mở rộng với thực trạng trước năm 2005 để phân tích bối cảnh lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin: Kế thừa luận điểm của C.Mác về sự phân công lao động xã hội và vai trò của giáo dục trong việc khắc phục sự phát triển phiến diện của con người, hướng tới phát triển toàn diện cả trí dục, thể dục và lao động sản xuất. Vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin về việc biến nhà trường thành công cụ của chuyên chính vô sản, khẳng định nguyên tắc "Học, học nữa, học mãi" và mối quan hệ giữa giáo dục lý thuyết với thực tiễn sản xuất.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục: Tập trung vào các quan điểm cốt lõi như "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", xây dựng nền giáo dục độc lập, tiên tiến mang tính dân tộc; 5 nguyên tắc và phương pháp giáo dục (học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; học tập kết hợp với lao động sản xuất; giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và xã hội; gắn giáo dục với tự giáo dục); vai trò trung tâm của người thầy giáo và trách nhiệm chăm lo của Đảng đối với thế hệ tương lai.
  • Chủ trương, văn kiện của Đảng: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng; Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX); Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo".
  • Văn bản chỉ đạo của địa phương: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVII (2005), XVIII (2010), XIX (2015); Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 25/7/2011 về phát triển cơ sở giáo dục chất lượng cao; Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 30/12/2011 về nâng cao chất lượng đồng đều trong giáo dục phổ thông; Nghị quyết số 141/2010/NQ-HĐ của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định về phát triển giáo dục mầm non đến năm 2015.

Khóa luận sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu của chuyên ngành Lịch sử Đảng:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan và tuần tự tiến trình ban hành chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong từng giai đoạn cụ thể.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa mối liên hệ bản chất giữa chủ trương và kết quả thực tế, từ đó rút ra các nhận định và bài học kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, tác giả kết hợp các phương pháp bổ trợ gồm: phương pháp thống kê, phân tích số liệu tài liệu lưu trữ, phương pháp so sánh đối chiếu giữa các mốc thời gian và giữa các cấp học. Nguồn dữ liệu sử dụng là các văn kiện đại hội, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nam Định, số liệu thống kê chuyên ngành từ Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, các đề tài luận văn thạc sĩ và tài liệu nghiên cứu đã công bố.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Nam Định

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đồng thời phân tích những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến giáo dục Nam Định.

Về kinh tế - xã hội, giai đoạn 2001 - 2005 ghi nhận sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương: tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 40,9% (năm 2000) xuống 34,5% (năm 2005); công nghiệp - xây dựng tăng từ 20,94% lên 28,1%; ngành dịch vụ đạt 37,4% (năm 2005). Đến năm 2005, toàn tỉnh có 80 làng nghề với giá trị sản xuất ước đạt 1.864 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần năm 2000), tuy nhiên lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao (76,9%).

Tác giả đánh giá hiện trạng giáo dục Nam Định giai đoạn trước năm 2005 với những kết quả nền tảng:

  • Giáo dục mầm non: Năm 1999 có 232 trường mầm non (13 công lập, 219 dân lập), 2.794 lớp. Đến năm 2000 có 2.730 lớp mẫu giáo, 83.400 học sinh và 3.282 giáo viên.
  • Giáo dục tiểu học: Năm học 1998 - 1999 đạt tỷ lệ hoàn thành 92,33%, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Năm học 1999 - 2000 có 217.000 học sinh, tỷ lệ hoàn thành đạt 93,75%; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 87,90%.
  • Giáo dục trung học: Năm học 2000 - 2001, toàn tỉnh có 245 trường THCS; khối THPT có 40 trường (10 trường dân lập) với 54.000 học sinh. Đội ngũ giáo viên THCS tăng lên 6.037 người (89,60% đạt chuẩn và trên chuẩn); giáo viên THPT có 1.421 người (96,88% đạt chuẩn và trên chuẩn).
  • Giáo dục thường xuyên và chuyên nghiệp: Đến năm 1999 có 100% huyện, thành phố có trung tâm GDTX với 24.287 học viên. Hệ thống chuyên nghiệp gồm 3 trường cao đẳng, 6 trường trung học chuyên nghiệp/nghề, 7 trường đào tạo nghề; năm học 2000 - 2001 có 5.000 học sinh đại học, cao đẳng hệ dài hạn.

Bên cạnh thành tựu, chương 1 chỉ ra các hạn chế tồn tại trước năm 2005: phân cấp quản lý ngành giữa Sở và Phòng GD&ĐT chưa đồng bộ; phổ cập bậc trung học còn chậm; chất lượng giáo dục toàn diện chưa đồng đều giữa các loại hình trường; cơ sở vật chất nhiều nơi còn lạc hậu.

Chương 2: Quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015

Chương này trình bày toàn diện quá trình cụ thể hóa chủ trương và tổ chức chỉ đạo thực hiện của Tỉnh ủy Nam Định qua 3 kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh (XVII, XVIII, XIX):

Kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Mục tiêu giáo dục và đào tạo trọng tâm
Đại hội XVII (2005) Xây dựng trường chuẩn quốc gia (60% mầm non, 80% tiểu học, 60% THCS); phấn đấu đến năm 2010 toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học; kiên cố hóa trường lớp.
Đại hội XVIII (2010) Phấn đấu đến năm 2013 đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học; chuẩn quốc gia: 60% mầm non, 60% THCS, 70% THPT, 100% tiểu học đạt mức độ I, 50% trung học đạt mức độ II; mở rộng mạng lưới đại học, cao đẳng.
Đại hội XIX (2015) Ghi nhận kết quả trẻ mầm non đến trường đạt 97,8%; duy trì phổ cập tiểu học và THCS đúng độ tuổi; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 các hệ đạt 82%.

Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Kiện toàn quản lý và mở rộng quy mô mạng lưới trường lớp:

    • Thực hiện Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-BGDĐT-BNV và Quyết định 06/QĐ-UBND (16/3/2009), chuyển các trung tâm GDTX cấp huyện về Sở GD&ĐT quản lý trực tiếp. Tháng 7/2010, sáp nhập TTGDTX thành phố Nam Định vào TTGDTX Nguyễn Hiền; tháng 7/2012 tiếp tục sáp nhập thành Trung tâm GDTX tỉnh Nam Định.
    • Hoạt động thanh tra giáo dục được đổi mới từ kiểm tra - đánh giá sang kết hợp tư vấn - thúc đẩy; hàng năm thanh tra toàn diện 300 - 350 trường học và 4.000 giáo viên (đạt tỷ lệ 25 - 30% toàn ngành).
    • Quy mô các cấp học mở rộng: bậc tiểu học duy trì 291 trường (136.428 học sinh, năm 2012 - 2013 là 1 trong 3 tỉnh đầu tiên cả nước đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ II); bậc THPT giai đoạn 2006 - 2010 tăng thêm 8 trường, đạt 55 trường với hơn 67.000 học sinh. Mạng lưới GDTX duy trì 16 trung tâm và 229 trung tâm học tập cộng đồng tại 100% xã/phường/thị trấn.
    • Mạng lưới đại học - cao đẳng phát triển nhanh với 4 trường đại học thành lập trong giai đoạn 2003 - 2007: Trường Đại học Lương Thế Vinh (05/12/2003), Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định (26/02/2004), Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định (05/01/2006), Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (11/09/2007). Đến năm 2010 có 21 trường chuyên nghiệp (4 ĐH, 5 CĐ, 12 TCCN/nghề); đến cuối năm 2013 có trên 57.000 sinh viên.
  2. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và kiểm định chất lượng:

    • Triển khai nghiêm túc cuộc vận động "Hai không" từ năm học 2006 - 2007 theo Quyết định số 153/QĐ-SGD-ĐT và Quyết định số 157/SGD-ĐT. Kết quả thi tốt nghiệp THPT từ năm 2006 đến 2012 duy trì tỷ lệ đỗ từ 90,33% trở lên (năm 2007 xếp thứ 2 toàn quốc, các năm còn lại liên tục dẫn đầu cả nước).
    • Triển khai chương trình phân ban THPT: Năm học 2007 - 2008, lớp 10 có 485 lớp (51 lớp ban Tự nhiên, 2 lớp ban Xã hội, 432 lớp ban Cơ bản); lớp 11 có 466 lớp (50 lớp ban Tự nhiên với 2.510 học sinh, 2 lớp ban Xã hội với 96 học sinh, 409 lớp ban Cơ bản với hơn 20.000 học sinh).
    • Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và các trường THPT trọng điểm cấp huyện. Đến tháng 2/2014, toàn ngành đã kiểm định chất lượng cho 93 cơ sở giáo dục.
  3. Tăng cường các điều kiện bảo đảm giáo dục và đẩy mạnh xã hội hóa:

    • Thống kê tỷ lệ chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giáo viên toàn tỉnh:
      • Mầm non: 7.559 người (96,4% đạt chuẩn, 54,2% trên chuẩn).
      • Tiểu học: 6.566 người (100% đạt chuẩn, 88,57% trên chuẩn).
      • THCS: 7.332 người (98,05% đạt chuẩn, 36,6% trên chuẩn).
      • THPT: 2.958 người (99,93% đạt chuẩn, 5,1% trên chuẩn).
      • GDTX: 358 người (99,88% đạt chuẩn, 1,51% trên chuẩn).
      • Giáo dục chuyên nghiệp: 3.122 người (100% đạt chuẩn, 14,86% trên chuẩn, có 78 Tiến sĩ).
    • Công tác xã hội hóa giáo dục và phong trào khuyến học phát triển mạnh: Năm 2010 toàn tỉnh có 2.965 dòng họ hiếu học, 479 dòng họ được trao tặng Bức trướng khuyến học. Quỹ Khuyến học - Khuyến tài Lương Thế Vinh thành lập tháng 11/2011 với 11 tỷ đồng ban đầu, đến năm 2014 huy động đạt gần 30 tỷ đồng; Quỹ khuyến học Phạm Văn Nghị (Nghĩa Hưng) đạt gần 2 tỷ đồng; Quỹ khuyến học Đào Sư Tích (Trực Ninh) đạt 1,740 tỷ đồng.

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Tác giả tổng kết các ưu điểm và hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh:

  • Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh có nhận thức đúng đắn và nhất quán về vai trò của giáo dục; ban hành hệ thống chỉ thị, nghị quyết sát hợp với thực tế; xây dựng được mạng lưới trường lớp hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học; giữ vững chất lượng giáo dục mũi nhọn và phổ cập, dẫn đầu cả nước trong nhiều năm; khơi dậy được sức mạnh xã hội hóa khuyến học khuyến tài.
  • Hạn chế: Cơ sở vật chất nhiều nơi còn thiếu thốn do ngân sách hạn hẹp; cơ cấu phân luồng học sinh phân ban mất cân đối nghiêm trọng (tỷ lệ chọn ban Khoa học xã hội - nhân văn quá thấp); còn khoảng cách chất lượng giữa các vùng miền và giữa các loại hình trường (công lập so với dân lập/GDTX); công tác giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh ở một số cơ sở ngoài công lập còn khó khăn.
  • Bài học kinh nghiệm rút ra:
    1. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của cấp ủy Đảng đối với công tác giáo dục, kịp thời thể chế hóa nghị quyết của Trung ương thành chương trình hành động tại địa phương.
    2. Tập trung xây dựng, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cả về phẩm chất chính trị lẫn chuyên môn nghiệp vụ.
    3. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, phát huy truyền thống hiếu học, gắn kết chặt chẽ ba môi trường giáo dục: nhà trường - gia đình - xã hội.
    4. Gắn kết chỉ đạo mở rộng quy mô trường lớp với nâng cao chất lượng giáo dục thực chất; ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiện đại hóa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu văn bản:

  • Kết quả thực tiễn: Hệ thống hóa toàn bộ tiến trình phát triển giáo dục Nam Định giai đoạn 2005 - 2015 với các mốc chỉ số tiêu biểu: tỷ lệ tốt nghiệp THPT luôn đạt từ 90,33% trở lên, nhiều năm xếp thứ nhất toàn quốc; 100% xã/phường có trung tâm học tập cộng đồng; hình thành 4 trường đại học tại chỗ; huy động quỹ khuyến học Lương Thế Vinh đạt gần 30 tỷ đồng vào năm 2014.
  • Giải pháp và đề xuất của tác giả: Đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giáo dục; điều chỉnh chính sách định hướng nghề nghiệp nhằm khắc phục sự lệch pha trong phân ban THPT; tăng cường đầu tư ngân sách kiên cố hóa trường lớp học và nâng cấp trường chất lượng cao theo Nghị quyết 10-NQ/TU.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình chuyên khảo bước đầu phục dựng bức tranh lịch sử lãnh đạo phát triển giáo dục của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong giai đoạn 10 năm chuyển mình CNH - HĐH (2005 - 2015), bổ sung nguồn tài liệu tổng hợp có giá trị cho lịch sử địa phương tỉnh Nam Định.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các báo cáo hành chính, văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy và số liệu thống kê ngành của Sở Giáo dục và Đào tạo, chưa kết hợp phương pháp điều tra xã hội học định lượng diện rộng về mức độ thụ hưởng giáo dục của người dân; phạm vi tư liệu giới hạn đến năm 2015.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu giai đoạn từ 2015 đến nay, đặc biệt là việc Đảng bộ tỉnh lãnh đạo triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục; so sánh mô hình lãnh đạo giáo dục của Nam Định với các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Quản lý giáo dục, Giáo dục học và Khoa học chính trị.

Nội dung công trình có giá trị trực tiếp đối với:

  • Cán bộ quản lý giáo dục, ban tuyên giáo các cấp tại địa phương khi nghiên cứu quá trình xây dựng chính sách giáo dục địa phương.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về phong trào khuyến học, mô hình dòng họ hiếu học và kinh nghiệm triển khai cuộc vận động "Hai không" tại các cơ sở giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2003 - 2007, tại thành phố Nam Định đã thành lập những trường đại học nào?
Trong giai đoạn này, có 4 trường đại học được thành lập tại thành phố Nam Định gồm: Trường Đại học Lương Thế Vinh (thành lập ngày 05/12/2003), Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định (ngày 26/02/2004), Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định (ngày 05/01/2006) và Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (ngày 11/09/2007).

2. Thực trạng phân ban tại các trường THPT tỉnh Nam Định trong năm học 2007 - 2008 diễn ra như thế nào?
Có sự chênh lệch lớn giữa các ban khi học sinh tập trung chủ yếu vào ban Cơ bản: ở khối lớp 10 có 432/485 lớp học ban Cơ bản, 51 lớp ban Tự nhiên và chỉ 2 lớp ban Xã hội; ở khối lớp 11 có 409/466 lớp học ban Cơ bản (hơn 20.000 học sinh), 50 lớp ban Tự nhiên (2.510 học sinh) và chỉ có 2 lớp ban Xã hội với 96 học sinh.

3. Kết quả thi tốt nghiệp THPT của học sinh tỉnh Nam Định trong 6 năm (2006 - 2012) đạt mức nào?
Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm của tỉnh Nam Định luôn ổn định từ 90,33% trở lên. Riêng năm 2007 kết quả thi tốt nghiệp của tỉnh được Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp thứ 2, các năm còn lại trong giai đoạn này đều giữ vị trí dẫn đầu toàn quốc.

4. Trình độ chuẩn hóa của đội ngũ giáo viên các cấp học tại Nam Định tính đến thời điểm nghiên cứu đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Tỷ lệ đạt chuẩn chuyên môn của đội ngũ giáo viên: Giáo dục tiểu học đạt 100% (88,57% trên chuẩn); Giáo dục chuyên nghiệp đạt 100% (14,86% trên chuẩn, có 78 Tiến sĩ); Giáo dục THPT đạt 99,93% (5,1% trên chuẩn); Giáo dục thường xuyên đạt 99,88% (1,51% trên chuẩn); Giáo dục THCS đạt 98,05% (36,6% trên chuẩn); Giáo dục mầm non đạt 96,4% (54,2% trên chuẩn).

5. Quỹ Khuyến học - Khuyến tài Lương Thế Vinh của tỉnh Nam Định được thành lập khi nào và quy mô vốn ra sao?
Quỹ Khuyến học - Khuyến tài Lương Thế Vinh được thành lập vào tháng 11/2011 với sự tài trợ chính của Ngân hàng Cổ phần Thương mại Bưu điện Liên Việt. Số vốn đầu tư ban đầu là 11 tỷ đồng, đến năm 2014 quỹ đã vận động được các nhà tài trợ đóng góp gần 30 tỷ đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Hồng Nhung đã tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2015. Công trình làm rõ các chủ trương, biện pháp quản lý, mở rộng quy mô trường lớp và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, giúp Nam Định duy trì vị thế dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục phổ thông. Các hạn chế về cơ sở vật chất, mất cân đối phân luồng môn học và bài học kinh nghiệm được tác giả đúc kết có giá trị thực tiễn đối với công tác hoạch định chính sách giáo dục địa phương.