Tổng quan luận án
Phát triển du lịch sinh thái (DLST) tại các khu rừng đặc dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu tài chính hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) và cải thiện đời sống cộng đồng địa phương (García-Herrera, 2016). Theo Luật Du lịch năm 2017 (Luật số 09/2017/QH14), DLST được định nghĩa là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư và kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Việt Nam xếp thứ 16 trên thế giới về mức độ ĐDSH và là một trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất toàn cầu (MONRE, 2015). Nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với 167 khu rừng đặc dụng trên diện tích 2.961 ha quy hoạch cho lâm nghiệp (gồm 33 vườn quốc gia, 57 khu dự trữ thiên nhiên, 14 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 54 khu bảo vệ cảnh quan).
Tuy nhiên, tài nguyên ĐDSH tại Việt Nam đang chịu nhiều áp lực suy thoái do tình trạng phá hủy sinh cảnh, săn bắt và buôn bán động vật hoang dã trái phép. Hoạt động DLST tại hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG/KBT) chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thiếu sự phối hợp liên ngành, thiếu cơ chế vận hành đồng bộ và chỉ tập trung ở một số khu vực như Cát Bà, Cát Tiên, Ba Vì, Tam Đảo, Bạch Mã. Các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu sản phẩm đặc thù gắn với quan sát động vật hoang dã; quy hoạch phân vùng chưa được thực hiện bài bản; sự tham gia của cộng đồng địa phương còn mang tính tự phát và đối mặt với nhiều rào cản.
Vườn Quốc gia Cát Bà (thành lập năm 1986) bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên đảo đá vôi tiêu biểu của Việt Nam, nằm trong quần thể vịnh Hạ Long – quần đảo Cát Bà. Mặc dù là một trong 07 VQG đang triển khai liên doanh, liên kết hoạt động DLST, VQG Cát Bà vẫn chưa có đề án phát triển DLST được phê duyệt chính thức. Các điểm tuyến du lịch hiện hữu chỉ tập trung xung quanh khu trung tâm Vườn, chưa khai thác được các loài động thực vật quý hiếm đặc hữu (như Voọc Cát Bà, Sơn dương, Thạch sùng mí Cát Bà), đồng thời thiếu các căn cứ khoa học không gian phục vụ phân vùng tiềm năng và định hướng ưu tiên giải pháp.
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp của nghiên cứu sinh Lê Thị Ngân (ngành Quản lý tài nguyên rừng, mã số 9620211, Trường Đại học Lâm nghiệp, bảo vệ năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đồng Thanh Hải và PGS.TS Phạm Ngọc Linh) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn và lý luận nói trên.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ định hướng phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH nhằm phát triển bền vững VQG Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng phát triển DLST tại VQG Cát Bà;
- Xác định các vùng DLST tiềm năng tại VQG Cát Bà;
- Đánh giá mức độ tham gia, thái độ và nhận thức của cộng đồng đối với phát triển DLST tại VQG Cát Bà;
- Đề xuất các giải pháp phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Tiềm năng ĐDSH cho phát triển DLST tại VQG Cát Bà là gì?
- Đâu là các vùng tiềm năng cho phát triển DLST tại VQG Cát Bà?
- Làm thế nào thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động DLST của VQG Cát Bà?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch sinh thái, tài nguyên đa dạng sinh học rừng và biển, cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực vùng đệm và vùng lõi, công tác quản lý của Ban quản lý VQG Cát Bà.
- Phạm vi không gian: Ranh giới tự nhiên và hành chính của Vườn Quốc gia Cát Bà và Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu hiện trạng rừng khảo sát năm 2020, số liệu dân sinh kinh tế - xã hội cập nhật năm 2019, các chuỗi số liệu khách du lịch và hoạt động quản lý giai đoạn trước năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các hướng nghiên cứu trọng tâm:
1. Khái niệm, đặc trưng và mô hình du lịch sinh thái bền vững:
Thuật ngữ "Ecotourism" xuất hiện từ công trình của Ceballos-Lascuráin (1987, 1996), sau đó được bổ sung các tiêu chí về trách nhiệm bảo tồn và lợi ích cộng đồng bởi Wood (1991), Allen (1993), Honey (1999, 2008), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES, 1990, 2015) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2008). Tại Việt Nam, các công trình của Lê Văn Lanh (1998, 2000), Phạm Trung Lương và cộng sự (2002, 2003), Lê Huy Bá (2000, 2006) và Nguyễn Quyết Thắng (2012) đã chuẩn hóa khung lý luận về DLST trong bối cảnh rừng đặc dụng. Wight (1993, 1997) xây dựng mô hình các nguyên tắc và giá trị DLST bền vững dựa trên sự cân bằng giữa ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
2. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học:
Budowski (1976) phân loại mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn thiên nhiên thành 3 trạng thái: cùng tồn tại, cộng sinh và mâu thuẫn. Các tác giả quốc tế như Belete và Assefa (2005), Benítez-López và cộng sự (2010), Lee (1998), Hearne và Salinas (2002), Lindsay (2003), Sekhar (2003), Holladay và Ormsby (2011), Mishra và cộng sự (1992), Porter và cộng sự (1998) phân tích tác động qua lại giữa sinh kế của cộng đồng sống phụ thuộc tài nguyên và hiệu quả bảo tồn tại các khu bảo tồn. Holmes (2013) khẳng định nhận thức và thái độ ủng hộ của cộng đồng địa phương là điều kiện tiên quyết để hạn chế xung đột tài nguyên.
3. Ứng dụng GIS và quy trình phân tích thứ bậc (AHP) trong đánh giá không gian du lịch:
Phương pháp phân tích quyết định đa tiêu chí (MCDA) kết hợp GIS được phát triển từ nền tảng lý thuyết phân tích thứ bậc AHP của Saaty (1980, 2004) và Saaty & Vargas (2001). Hướng tiếp cận này được ứng dụng trong đánh giá thích nghi và phân vùng DLST bởi Armstrong (1994), Boyd & Butler (1996), Kumari và cộng sự (2010), Akbarzadeh và cộng sự (2011), Bunruamkaew & Murayama (2011), Ghamgosar (2011) và Chandio và cộng sự (2013).
4. Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương:
Luận án kế thừa các khung bậc thang tham gia của Arnstein (1969), Deshler & Sock (1985), Pretty (1995) và Tosun (1999, 2000). Các yếu tố thúc đẩy và rào cản tham gia được phân tích qua nghiên cứu của Keovilay (2012), Brohman (1996), Gilbert & Clark (1997), McCool & Martin (1994), Thammajinda (2013), Briedenhann & Wickens (2004), Lee (2013), Thakadu (2005), Lise (2000), Cassidy (2001), Attaallah & Al-ehewate (2016), Jurowski & Gursoy (2004) và Dương Thị Minh Phương (2015).
5. Các nghiên cứu địa bàn tại VQG Cát Bà và các khu bảo tồn Việt Nam:
Tác giả tổng thuật các nghiên cứu trước đây tại VQG Cát Bà gồm luận văn của Phạm Văn Thương (2013), Hoàng Văn Cầu (2017, 2018), Hoàng Văn Phúc (2016), Phạm Thị Bích Thủy (2018), cùng các nghiên cứu tại các VQG khác như Nguyễn Đình Tình (2020), Lê Văn Hoài (2017), Hoàng Ngọc Mai (2017), Vũ Đức Tài (2019), Trương Thị Vân Anh (2017).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây tại VQG Cát Bà chủ yếu dừng lại ở mức mô tả hiện trạng hoạt động du lịch hoặc đánh giá đơn lẻ tiềm năng tài nguyên. Chưa có công trình nào tích hợp đồng bộ công nghệ GIS với phương pháp phân tích thứ bậc AHP để xây dựng bản đồ phân vùng tiềm năng DLST dựa trên 11 lớp chỉ tiêu chuyên đề. Đồng thời, luận án lấp đầy khoảng trống dữ liệu định lượng về mức độ tham gia, các rào cản của cộng đồng và lượng hóa thứ bậc ưu tiên của hệ thống giải pháp phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh tự chủ tài chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các lý thuyết và khung khái niệm sau:
- Định nghĩa DLST theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) và Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES, 2015).
- Khái niệm ĐDSH 3 cấp độ (di truyền, loài, hệ sinh thái) theo Công ước Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Luật Đa dạng sinh học (2008) và Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
- Mô hình nguyên tắc và giá trị DLST bền vững của Wight (1997) cân bằng 3 nhóm mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Lý thuyết tương tác du lịch - bảo tồn của Budowski (1976).
- Thang đo 7 mức độ tham gia của cộng đồng theo Pretty (1995) và phân loại 3 nhóm rào cản tham gia theo Tosun (2000).
| Cấp độ tham gia (Pretty, 1995) |
Đặc điểm nhận diện |
| 1. Tham gia thụ động |
Người dân nhận thông báo về những gì đã hoặc sẽ diễn ra. |
| 2. Tham gia cung cấp thông tin |
Người dân trả lời câu hỏi của các nhà nghiên cứu/dự án. |
| 3. Tham gia tư vấn |
Người dân được tham vấn ý kiến nhưng không có quyền quyết định. |
| 4. Tham gia bằng động cơ vật chất |
Người dân tham gia bằng cách cung cấp tài nguyên/lao động để đổi lấy lương thực/tiền tệ. |
| 5. Tham gia chức năng |
Người dân tham gia theo nhóm do dự án lập ra để hoàn thành mục tiêu định trước. |
| 6. Tham gia tương tác |
Người dân cùng tham gia phân tích, lập kế hoạch hành động và kiểm soát tiến trình. |
| 7. Tự huy động / Tham gia tự giác |
Người dân tự khởi xướng các hoạt động độc lập mà không cần sự thúc đẩy từ bên ngoài. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa kỹ thuật phân tích không gian, điều tra sinh thái và khảo sát xã hội học:
1. Phương pháp GIS và phân tích thứ bậc AHP (Saaty, 1980):
- Thu thập và chuẩn hóa dữ liệu không gian thành các lớp chuyên đề raster/vector.
- Xây dựng ma trận so sánh cặp giữa các nhân tố và tiêu chí để xác định trọng số ($W_i$).
- Chồng xếp các lớp bản đồ đơn tính bằng kỹ thuật Weighted Overlay trong phần mềm GIS để phân vùng tiềm năng DLST.
| Nhóm nhân tố |
Lớp chuyên đề / Tiêu chí đánh giá |
| Điều kiện tự nhiên |
Tầm nhìn cảnh quan, Độ dốc địa hình, Độ cao địa hình |
| Tài nguyên ĐDSH |
Hiện trạng rừng, Mức độ bảo tồn ĐDSH, Phân bố loài nguy cấp quý hiếm |
| Văn hóa - Xã hội |
Khả năng tiếp cận các điểm văn hóa, Khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt |
| Cơ sở hạ tầng |
Khả năng tiếp cận hệ thống đường giao thông |
2. Phương pháp điều tra xã hội học:
- Phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình thuộc các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Cát Bà theo bảng hỏi cấu trúc. Nội dung gồm: nhân khẩu học, mức độ tham gia thực tế, nhận thức về lợi ích, các yếu tố thúc đẩy, rào cản tham gia và thái độ đối với công tác bảo tồn ĐDSH.
- Khảo sát khách du lịch: phát phiếu điều tra về thành phần du khách, thời gian lưu trú, mục đích chuyến đi, mức độ quan tâm đến các tuyến điểm và nhu cầu trải nghiệm tài nguyên.
3. Phương pháp điều tra ĐDSH và sinh thái rừng:
- Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ tài liệu lưu trữ của VQG Cát Bà và Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà.
- Khảo sát thực địa bổ sung về hiện trạng các kiểu thảm thực vật, cấu trúc rừng, sự phân bố của các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm.
4. Phương pháp xác định thứ bậc ưu tiên giải pháp:
- Áp dụng phương pháp chuyên gia kết hợp ma trận AHP để tính toán trọng số ưu tiên cho hệ thống giải pháp phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLST, các nguyên tắc phát triển bền vững và khung pháp lý liên quan đến rừng đặc dụng. Tác giả phân tích các khái niệm từ Ceballos-Lascuráin (1987) đến Luật Du lịch Việt Nam (2017), làm rõ vai trò của DLST đối với kinh tế (chiếm 20% thị trường du lịch thế giới theo WTTC, 2010), xã hội và môi trường.
Chương này trình bày chi tiết mô hình cân bằng của Wight (1997), lý thuyết quan hệ du lịch - bảo tồn của Budowski (1976), và các tiêu chuẩn vùng VQG theo IUCN cùng Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, chương 1 rà soát các nghiên cứu ứng dụng GIS - MCDA (AHP) trên thế giới, thang đo sự tham gia của cộng đồng (Pretty, 1995; Tosun, 2000) và điểm lại các công trình nghiên cứu đã thực hiện tại VQG Cát Bà cũng như hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam.
Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 2 phân tích các đặc trưng địa bàn nghiên cứu:
- Đặc điểm tự nhiên: Vị trí địa lý VQG Cát Bà nằm trên quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Địa hình đặc trưng bởi các dãy núi đá vôi karst ngập chìm một phần trong biển, nhiều thung lũng, vụng áng kín gió và hang động tự nhiên; khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển đảo.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội: Tổng hợp dân số, dân tộc và nguồn lao động của các xã trong khu vực nghiên cứu theo số liệu năm 2019 (Bảng 2.1). Đời sống người dân phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác thủy sản và bước đầu tham gia cung ứng dịch vụ du lịch; cơ sở hạ tầng giáo dục và y tế đang được cải thiện.
Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xác lập đối tượng, phạm vi và tiến trình nghiên cứu chi tiết:
- Trình bày sơ đồ các bước xác định vùng thích hợp cho phát triển DLST từ khâu thu thập dữ liệu, phân loại tiêu chí, chuẩn hóa bản đồ, xác định trọng số AHP đến tổng hợp bản đồ không gian.
- Định lượng hóa các bảng chỉ tiêu: Bảng 3.1 (Nguồn dữ liệu không gian), Bảng 3.2 (Các nhân tố và tiêu chí sử dụng trong phân tích sự phù hợp đối với DLST), Bảng 3.3 (Thang đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố) và Bảng 3.4 (Mức độ tham gia của cộng đồng).
- Thiết kế mẫu điều tra xã hội học đối với cộng đồng dân cư và khách du lịch.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
1. Thực trạng phát triển DLST tại VQG Cát Bà:
- Tuyến điểm du lịch: VQG Cát Bà đang khai thác các tuyến điểm chính như: Đỉnh Ngự Lâm, Tuyến Giáo dục môi trường, Tham quan rừng ngập mặn, Làng chài Việt Hải, Động Trung Trang, Vườn thực vật, Tuyến quan sát chim thú, Động Thiên Long, Tuyến vịnh Lan Hạ - Vạn Bội, Hang Sáng - Vạn Tà, Làng chài Trà Báu, Hang Quả Vàng.
- Cơ sở hạ tầng và quản lý: Bảng 4.1 thống kê hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Hoạt động DLST do Trung tâm Dịch vụ Du lịch & Giáo dục Môi trường trực thuộc VQG Cát Bà điều hành và quản lý.
- Khách du lịch: Khảo sát cho thấy cấu trúc khách du lịch bao gồm cả khách nội địa và quốc tế, thời gian lưu trú phần lớn là ngắn ngày; lượng khách có sự phân hóa rõ rệt giữa tuyến rừng và tuyến biển.
2. Hiện trạng và tiềm năng ĐDSH cho phát triển DLST:
- Đa dạng hệ sinh thái và thảm thực vật: Bảng 4.2 tổng hợp hiện trạng rừng VQG Cát Bà năm 2020. Vườn có hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô và các hồ nước mặn (áng).
- Đa dạng thành phần loài: Bảng 4.3 ghi nhận thành phần loài động vật rừng tại Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà. Các loài động vật nguy cấp quý hiếm có tiềm năng khai thác phục vụ DLST đặc thù gồm: Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena), Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis), Ếch cây sần Bắc Bộ (Theloderma corticale).
3. Xác định vùng tiềm năng phát triển DLST bằng GIS và AHP:
Tác giả xây dựng và phân tích diện tích theo các bảng thống kê không gian (Bảng 4.4 đến Bảng 4.12) tương ứng với 11 lớp bản đồ đơn tính:
- Thống kê diện tích theo tầm nhìn cảnh quan;
- Thống kê diện tích theo hiện trạng rừng năm 2020;
- Thống kê diện tích theo mức độ bảo tồn ĐDSH (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái, dịch vụ hành chính);
- Thống kê diện tích theo mức độ đa dạng loài nguy cấp, quý hiếm;
- Thống kê diện tích theo độ dốc và độ cao địa hình;
- Thống kê diện tích theo khả năng tiếp cận mạng lưới giao thông bộ và đường thủy;
- Thống kê diện tích theo khoảng cách tới các điểm di tích lịch sử, văn hóa bản địa;
- Thống kê diện tích theo khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt.
Bảng 4.13 xác định ma trận so sánh cặp và trọng số AHP của các chỉ tiêu. Bảng 4.14 và bản đồ tích hợp tổng hợp kết quả phân hạng tiềm năng DLST tại VQG Cát Bà thành các mức độ thích hợp khác nhau (rất thích hợp, thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp), làm căn cứ quy hoạch không gian du lịch.
4. Nhận thức và thái độ của cộng đồng đối với phát triển DLST và bảo tồn ĐDSH:
- Hồ sơ xã hội học: Bảng 4.15 tổng hợp đặc điểm nhân khẩu học của người dân tham gia phỏng vấn (độ tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp).
- Mức độ tham gia: Đa số người dân tham gia ở các bậc thấp (tham gia thụ động, cung cấp thông tin, tham gia vì lợi ích vật chất theo thang Pretty, 1995). Các hoạt động cung cấp dịch vụ chủ yếu gồm: dịch vụ ăn uống, homestay, làm người dẫn đường (guider), chèo thuyền, bán hàng lưu niệm.
- Rào cản tham gia: Người dân gặp các rào cản thuộc 3 nhóm theo phân loại của Tosun (2000): rào cản về cơ chế chính sách, rào cản điều hành quản lý và rào cản văn hóa nhận thức (thiếu vốn, thiếu kỹ năng nghiệp vụ du lịch, rào cản ngôn ngữ).
- Nhận thức và thái độ: Bảng 4.16 và 4.17 tổng hợp nhận thức của cộng đồng về lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của DLST. Kết quả ghi nhận có sự chuyển biến tích cực trong việc giảm mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiên (chặt củi, săn bắt động vật) sau khi người dân tham gia và có nguồn thu từ hoạt động DLST.
5. Đề xuất hệ thống giải pháp và xác định thứ tự ưu tiên bằng AHP:
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: nhóm giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức quản lý; nhóm giải pháp quy hoạch không gian tuyến điểm; nhóm giải pháp bảo tồn ĐDSH; nhóm giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù; nhóm giải pháp hỗ trợ cộng đồng tham gia. Bảng 4.18 lượng hóa trọng số AHP để xác định thứ tự ưu tiên thực thi giữa các nhóm giải pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:
- Luận án đã tích hợp phương pháp công nghệ thông tin địa lý (GIS) và quy trình phân tích thứ bậc (AHP) để đánh giá và phân vùng không gian tiềm năng DLST tại VQG Cát Bà. Mô hình tích hợp đồng thời 11 lớp chuyên đề thuộc 4 nhóm nhân tố: điều kiện tự nhiên, tài nguyên ĐDSH, tài nguyên văn hóa và hạ tầng giao thông.
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm về mức độ tham gia (theo thang Pretty), các yếu tố thúc đẩy và hệ thống rào cản (theo khung Tosun) chi phối sự tham gia của cộng đồng địa phương trong DLST gắn với bảo tồn ĐDSH tại khu dự trữ sinh quyển hải đảo.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Xác lập bản đồ phân vùng tiềm năng DLST VQG Cát Bà, cung cấp căn cứ không gian phục vụ xây dựng và phê duyệt Đề án phát triển DLST của Vườn.
- Lượng hóa thứ bậc ưu tiên của hệ thống giải pháp bằng phương pháp AHP (Bảng 4.18), giúp Ban quản lý VQG Cát Bà và các cơ quan quản lý xác định lộ trình phân bổ nguồn lực phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính tại các rừng đặc dụng Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong ranh giới VQG Cát Bà và vùng phụ cận đảo Cát Bà; các số liệu điều tra cộng đồng và hiện trạng rừng phản ánh thực trạng giai đoạn 2019-2020; các trọng số AHP phụ thuộc vào việc đánh giá chuyên gia trong khuôn khổ nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tính toán sức chứa du lịch sinh thái (sức chứa vật lý, sinh thái và tâm lý) cho từng tuyến điểm đặc thù, đặc biệt là các tuyến tham quan hang động, vụng vịnh và tuyến xem động vật hoang dã ban đêm; thiết lập hệ thống giám sát lâu dài tác động của hoạt động du lịch đến quần thể các loài nguy cấp như Voọc Cát Bà và Thạch sùng mí Cát Bà.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Ban quản lý VQG Cát Bà, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Sở Du lịch Hải Phòng trong việc lập quy hoạch, phê duyệt Đề án phát triển du lịch sinh thái và ban hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cơ chế liên doanh liên kết du lịch.
- Đối với các ban quản lý rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên: Là tài liệu tham khảo về quy trình phân vùng thích nghi DLST bằng công cụ GIS - AHP và mô hình quản lý du lịch có sự tham gia của cộng đồng bản địa.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Tài liệu hữu ích cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Quản lý tài nguyên môi trường, Du lịch học tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những công cụ kỹ thuật nào để xác định các vùng tiềm năng DLST tại VQG Cát Bà?
Luận án sử dụng kỹ thuật phân tích không gian GIS kết hợp với phương pháp phân tích quyết định đa tiêu chí AHP (Saaty, 1980) để tính toán trọng số cho 11 lớp chuyên đề (tầm nhìn, hiện trạng rừng, mức độ bảo tồn, loài quý hiếm, độ dốc, độ cao, giao thông, văn hóa, nguồn nước) và chồng xếp phân hạng tiềm năng.
2. Thang đo nào được tác giả sử dụng để đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng địa phương?
Tác giả áp dụng thang đo 7 mức độ tham gia của Pretty (1995), từ mức 1 (tham gia thụ động) đến mức 7 (tự huy động/tham gia tự giác), kết hợp với khung lý thuyết của Tosun (2000) để phân tích các nhóm rào cản về cơ chế, điều hành và nhận thức.
3. Những loài động vật hoang dã quý hiếm nào tại VQG Cát Bà được mô tả có tiềm năng cho phát triển sản phẩm DLST đặc thù?
Các loài được xác định gồm: Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena), Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis) và Ếch cây sần Bắc Bộ (Theloderma corticale).
4. Vì sao việc sắp xếp thứ bậc ưu tiên các giải pháp bằng AHP lại có ý nghĩa thực tiễn đối với VQG Cát Bà?
Việc xác định trọng số ưu tiên bằng AHP giúp Ban quản lý Vườn xác định các giải pháp trọng tâm cần ưu tiên nguồn lực đầu tư trước mắt, phù hợp với xu thế tự chủ tài chính của các VQG và khu bảo tồn tại Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Ngân đã giải quyết đồng bộ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Cát Bà. Bằng việc tích hợp công nghệ GIS, phương pháp AHP và điều tra xã hội học, công trình đã phân vùng thành công các khu vực tiềm năng du lịch, làm rõ thực trạng tham gia của cộng đồng và đề xuất hệ thống giải pháp có thứ bậc ưu tiên. Kết quả nghiên cứu là tài liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác quy hoạch, quản lý rừng đặc dụng và định hướng phát triển bền vững tại quần đảo Cát Bà.