Luận án tiến sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia cát bà hải phòng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên rừng.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

226
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà

Vườn Quốc gia Cát Bà là một trong những khu vực có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Với hệ sinh thái đa dạng và phong phú, nơi đây không chỉ thu hút du khách bởi cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn bởi giá trị văn hóa địa phương. Việc phát triển du lịch sinh thái tại đây không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và văn hóa của Vườn Quốc gia Cát Bà

Vườn Quốc gia Cát Bà có hệ sinh thái biển và rừng phong phú, với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Văn hóa địa phương cũng rất đa dạng, tạo nên sức hấp dẫn cho du khách khi đến tham quan.

1.2. Vai trò của du lịch sinh thái trong phát triển bền vững

Du lịch sinh thái không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững cho Vườn Quốc gia Cát Bà.

II. Thách thức trong phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên quá mức và sự thiếu hợp tác giữa các bên liên quan đang cản trở sự phát triển bền vững.

2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên

Ô nhiễm từ hoạt động du lịch và khai thác tài nguyên thiên nhiên đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà, đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài động thực vật.

2.2. Thiếu sự hợp tác giữa các bên liên quan

Sự thiếu hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương trong việc xây dựng chính sách phát triển du lịch sinh thái đã dẫn đến những khó khăn trong việc triển khai các hoạt động bảo tồn.

III. Phương pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học

Để phát triển du lịch sinh thái một cách bền vững, cần áp dụng các phương pháp kết hợp giữa bảo tồn và phát triển kinh tế. Việc sử dụng công nghệ GIS và phân tích AHP có thể giúp xác định các vùng tiềm năng cho phát triển du lịch.

3.1. Sử dụng công nghệ GIS trong quy hoạch du lịch

Công nghệ GIS giúp xác định các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển hợp lý và hiệu quả.

3.2. Phân tích AHP trong đánh giá tiềm năng

Phân tích AHP cho phép đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái, giúp đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc quy hoạch và phát triển.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Cát Bà

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà có thể mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương và bảo tồn đa dạng sinh học. Các hoạt động du lịch đã được triển khai và bước đầu đạt được những kết quả tích cực.

4.1. Kết quả từ các hoạt động du lịch sinh thái

Các hoạt động du lịch như tham quan, khám phá thiên nhiên đã thu hút được nhiều du khách, tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng và góp phần vào công tác bảo tồn.

4.2. Nhận thức của cộng đồng về du lịch sinh thái

Cộng đồng địa phương đã dần nhận thức được tầm quan trọng của du lịch sinh thái trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế, từ đó tích cực tham gia vào các hoạt động du lịch.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho du lịch sinh thái tại Cát Bà

Việc phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Cát Bà là một hướng đi cần thiết. Cần có các chính sách cụ thể và sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Đề xuất chính sách phát triển bền vững

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động này.

5.2. Tương lai của du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà

Với những tiềm năng hiện có, du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà có thể trở thành một trong những sản phẩm du lịch chủ lực, góp phần vào phát triển kinh tế và bảo tồn môi trường.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia cát bà hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về DLST 1. Khái niệm về DLST Hiện nay đang tồn tại rất nhiều định nghĩa về DLST. Mỗi định nghĩa nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau về DLST như vấn đề BVMT, phát triển kinh tế, bảo tồn ĐDSH,… Trong Luận án này, những định nghĩa được sử dụng rộng rãi sẽ được xem xét.

Cụ thể như sau: Thuật ngữ "Ecotourism - DLST" lần đầu tiên được giới thiệu bởi Ceballos-Lascuráin vào năm 1987 và ngay sau đó đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp (Ceballos-Lascuráin, 1987, 1996). Tuy nhiên, theo định nghĩa này, tác giả đã chỉ nhấn mạnh về yếu tố tự nhiên nhưng chưa đề cập đến vấn đề bảo tồn những giá trị thiên nhiên và văn hóa địa phương cũng như sự tham gia của cộng đồng dân cư. Vì vậy, khái niệm này phù hợp với du lịch dựa vào thiên nhiên (nature - based tourism) hơn là khái niệm về DLST. Theo định nghĩa của Wood (1991): “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST.

Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho người dân địa phương”. Định nghĩa của Allen (1993): “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác BVMT. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc BTTN”.

7 Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để BVMT, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”. Trong cuộc hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST” tại Việt Nam năm 1999, khái niệm DLST mới có sự thống nhất bước đầu: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và PTBV, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Định nghĩa này bao hàm đầy đủ nội dung của DLST, thống nhất về cơ bản với các quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới.

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm: “DLST là một loại hình du lịch lấy các HST đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các HST. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”. Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): “DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH của nhân dân địa phương” (IUCN, 2008). Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) vào năm 1990 bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệ thống lý luận và thực tiễn 8 về PTBV trong du lịch.

Hiệp hội DLST thế giới đã tổng hợp và đưa ra định nghĩa tương đối đầy đủ về DLST: “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường, duy trì cuộc sống của người dân địa phương và liên quan đến việc giải thích và giáo dục” (TIES, 2015). Bảng tổng hợp các định nghĩa về DLST Khái niệm Nguồn “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho người dân địa phương”. “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề.

DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác Allen, 1993. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc BTTN”. “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, Honey, 1999.

tạo quỹ để BVMT, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”. 9 Khái niệm Nguồn Hội thảo “Xây “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa dựng chiến lược bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực quốc gia về phát bảo tồn và PTBV, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa triển DLST” tại phương". “DLST là một loại hình du lịch lấy các HST đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các HST. Đó cũng là hình thức kết hợp Lê Huy Bá, chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới 2000.

thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và TNTN một cách bền vững”. “DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc IUCN, 2008. trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH của nhân dân địa phương”. “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường, duy trì cuộc sống của người dân địa phương và TIES, 2015.

liên quan đến việc giải thích và giáo dục”. Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của DLST đã có những thay đổi, từ chỗ đơn thuần là loại hình du lịch hoạt động ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực, nhấn mạnh vào việc bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hóa, trong việc kết hợp 10 với phát triển cộng đồng địa phương, cung cấp các vấn đề giáo dục du khách. Theo đó, DLST là hoạt động có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại nguồn lợi cho người dân địa phương. Các nghiên cứu trên thế giới cũng nhấn mạnh đến mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động du lịch với công tác bảo tồn ĐDSH.

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX song đã thu hút đực sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Tuy nhiên với nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau khái niệm DLST còn nhiều điểm chưa thống nhất (Phạm Trung Lương và cộng sự, 2002). Theo Phạm Trung Lương và cộng sự (2002) đã nhận định, DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc BVMT và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương, có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn (Phạm Trung Lương, 2003). Hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã được các tổ chức và các học giả đưa ra như: Lê Văn Lanh (1998), Hội các VQG và khu BTTN Việt Nam (2001); Phạm Trung Lương (2002), Lê Huy Bá (2006).

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và PTBV với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Lê Văn Lanh, 1998; Phạm Trung Lương và cộng sự, 2002; Lê Huy Bá, 2006; Nguyễn Quyết Thắng, 2012). Mặc dù các định nghĩa trên chưa thống nhất với nhau hoàn toàn nhưng đã tập trung vào việc giải thích DLST phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa những giá trị TNTT, bản sắc văn hóa địa phương với việc nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn những giá trị đó đồng thời nhấn mạnh vai trò, quyền lợi của cộng đồng địa phương trong hoạt động DLST. 11 Theo Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam 2017 định nghĩa: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về BVMT” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa này để tiếp cận các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án.

Các loại hình DLST Để thuận tiện cho việc nghiên cứu tổng quát cũng như thực tế tổ chức hoạt động DLST thì hình thức phân chia các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi được sử dụng phổ biến (Hiệp hội DLST, 1999a).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ