phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Tổng quan lý luận về làng nghề và du lịch làng nghề Chƣơng 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề chè truyền thống tại các vùng chè đặc sản Thái Nguyên Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch làng chè truyền thống tại các vùng chè đặc sản Thái Nguyên 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 1. Những vấn đề chung về du lịch 1. Khái niệm du lịch và khách du lịch 1. Khái niệm du lịch Cho đến nay, khái niệm về “du lịch” còn có sự chưa thống nhất, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về du lịch.
+ Khái niệm ngắn gọn nhất về du lịch được hai tác giả Ausher và Nguyễn Khắc Viện nêu ra, theo đó “du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân”(Ausher), hoặc “du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người” (Nguyễn Khắc Viện). Trong Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội (1995) “du lịch là đi chơi cho biết xứ người” [24, tr.7,8] + Luật Du lịch được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã xác định “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khái niệm này có thể được coi là định nghĩa chính thức của Việt Nam về hoạt động du lịch. Khái niệm khách du lịch Du khách là chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch, bởi không có khách sẽ không tồn tại hoạt động du lịch.
Khái niệm về du khách lúc đầu đơn giản là “người từ ngoài tới với mục đích tham quan du ngoạn”, càng về sau càng được làm rõ hơn, theo đó “Khách du lịch là không phải là cư dân sinh sống định cư tại địa điểm tham quan du lịch, phải lưu lại điểm tham quan du lịch tối thiểu là 24 giờ, và đi du lịch không vì mục đích chức vụ, lợi lộc” (Luật Du lịch, 2005). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để có thể thực hiện được hành vi đi du lịch, du khách phải có được một số điều kiện, trong đó 2 điều kiện quan trọng nhất là thu nhập và thời gian nhàn rỗi 1. Khái niệm về tài nguyên du lịch và Sản phẩm du lịch 1. Khái niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên du lịch là một thành phần của tài nguyên nói chung, tài nguyên thiên nhiên nói riêng. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” (Luật Du lịch, 2005). Như vậy, tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch song cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động du lịch.
Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Khái niệm về Sản phẩm du lịch Sản phẩm là tất cả những cái gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một nhu cầu hay mong muốn. Sản phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vô hình, những địa điểm (cho thuê địa điểm, thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh), phát minh, sáng chế. Khái niệm về sản phẩm du lịch đã được đưa ra trong Luật Du lịch (2005), theo đó “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” Một số tài liệu khác cho rằng “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt có tính dịch vụ cao và được tạo thành bởi nhiều yếu tố nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách” và như vậy sản phẩm du lịch chỉ bao gồm dịch vụ tổng thể của nhà cung cấp dựa vào các yếu tố thu hút du lịch khác như kết cấu hạ tầng du lịch, tài nguyên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lao động (con người) và các yếu tố “tiền” du lịch như nghiên cứu thị trường du lịch, chiến lược kinh doanh du lịch, chiến lược marketing du lịch, xây dựng sản phẩm và cung cấp (bán) sản phẩm cho du khách để thỏa mãn nhu cầu của du khách.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO, “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành : (i) kết cấu hạ tầng du lịch; (ii) tài nguyên du lịch; và (iii) cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch” Thực tế cho thấy khái niệm này của WTO là “bao trùm” và thể hiện đầy đủ những gì chứa đựng trong một sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch được cung cấp cho du khách phải có 8 cấu phần thiết yếu: (i) Dịch vụ lưu trú, (ii) Dịch vụ vận chuyển du lịch, (iii) Dịch vụ ăn uống, (iv) Tham quan, thắng cảnh (v) Dịch vụ vui chơi giải trí & nghỉ dưỡng, (vi) Dịch vụ mua sắm. (vii) Chương trình du lịch trọn gói, (viii) các dịch vụ bổ sung khác. Khái niệm phát triển Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phúc tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật.
Phát triển là tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi căn bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng. Phát triển còn là tất cả các hoạt động tìm kiếm. Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng.
Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai. Quan niệm, phân loại và đặc trưng của làng nghề 1. Quan niệm: Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nền kinh tế của nước ta đang phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngoài sản xuất nông nghiệp thì nhân dân ta từ rất lâu đời còn có những nghề khác hỗ trợ đắc lực cho đời sống kinh tế, xã hội.
Đó là những nghề mang tính sản xuất phi nông nghiệp - nghề phụ, mà thực chất là nghề 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thủ công. Lúc đầu những nghề phụ chỉ là hoạt động sản xuất được làm tranh thủ trong thời gian nông nhàn để tạo ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Nhưng do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng nên người thợ thủ công cần nâng cao tay nghề, đầu tư nhiều thời gian hơn và họ tách khỏi nghề nông để chuyên tâm làm đồ thủ công. Các hoạt động thủ công cũng dần dần được chuyên môn hoá thành các nghề và được gọi chung là thủ công nghiệp như nghề: mộc, nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề dệt… Theo Từ điển Tiếng Việt, “làng là khối dân cư ở nông thôn, lập thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính cấp thấp nhất thời phong kiến; còn nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”.
Làng nghề hay làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làng nghề cổ truyền… thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề nào đó. Nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng. Làng nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn, được tạo bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, văn hoá và xã hội (Trần Minh Yến, 2004). Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, gọi là một làng nghề là làng ấy tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trôi một nghề cổ truyền tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp, có phường có ông trùm, có phó cả… cùng với một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên có một quy trình và công nghệ nhất định, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô, tiến tới mở rộng ra cả nước, có thể xuất khẩu ra nước ngoài.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu, dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ…trở thành di sản văn hoá dân gian” [25, tr38-39]. Theo thạc sĩ Bùi Văn Vượng: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đó không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng là người làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác [27, tr.