CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH vụ DU LỊCH TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, với cơ cấu dân số trẻ, nguồn nhân lực dồi dào, đây thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch mạnh mẽ. Lĩnh vực du lịch những năm gần đây phát triển khá nhanh, nhiều dịch vụ du lịch được hình thành và đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân. Theo đó, vai trò của lĩnh vực này trong tỷ trọng nền dịch vụ chung của quốc gia được nhìn nhận ờ vị thế trung tâm, cần có tầm nhìn chiến lược để phát triển bứt phá.
Cần phải khẳng định rằng, Nhà nước có vai trò quyết định tới vấn đề này. Tuy nhiên, có thể thấy, dịch vụ du lịch vẫn là một lĩnh vực khá mới trong các lĩnh vực được nghiên cứu sâu những năm gần đây. Vì thế mà rất khó đe tìm được công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ du lịch và vai trò Nhà nước trong phát triển dịch vụ du lịch. Các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam những năm trước đề cập nhiều hơn về sự phát triển cua dịch vụ nói chung và quan tâm nhiều hơn tới kinh tế dịch vụ và phát triển khu vực dịch vụ làm nền táng cho phát triển kinh tế nói chung, chứ hiếm hoi đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực dịch vụ du lịch.
Trần Hậu (2010), “Dịch vụ xã hội; một số vấn đề lý luận và thực tiền ”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10. Công trình nghiên cứu này đã nêu lên một số quan điếm về dịch vụ, cách phân loại dịch vụ theo mục đích, theo chức năng, theo tính chất. nhưng không đề cập đến những giải pháp đế phát triến các dịch vụ như cảng biển, dịch vụ du lịch. 5 Nguyễn Ngọc Mạnh (2012), "Phát triền khu vực dịch vụ của Hoa Kỳ trong thập niên đầu thế kỷ XXI”, Luận án Tiến sĩ kinh tế.
Công trình nghiên cứu này cũng mới chỉ đề xuất những giải pháp về chính sách phát triển dịch vụ của Việt Nam và một số giải pháp phát triển các ngành dịch vụ cụ thể như: dịch vụ giáo dục đại học và sau đại học, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ khoa học và công nghệ, mà chưa đề cập đến dịch vụ cảng biển hay dịch vụ du lịch. Mới đến những năm gần đây, đã có một số lượng ít ỏi các nhà nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực dịch vụ du lịch. Kết quả nghiên cứu của các công trình đó, đã được thể hiện trong các đề tài khoa học, các sách báo và trên các tạp chí. tiêu biểu là: Nguyễn Thị Thu Hà (2020), "Đề xuất một sổ tiêu chỉ đo lường dịch vụ du lịch trong đánh giả phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam”, Tạp chí Công Thương.
Công trình nghiên cứu đã đánh giá đo lường phát triển du lịch bền vững, đề xuất nhân tố đo lường sự phát triển dịch vụ du lịch ở Việt Nam, phân tích sự ảnh hưởng của dịch vụ du lịch tới kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam. Dựa trên những kết quả và phân tích, thảo luận hiện trạng sự phát triển của du lịch Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018. Trần Xuân Lộc (2020), "Nghiên cứu phát triền hoạt động kỉnh doanh dịch vụ du lịch trực tuyến”, Tạp chí Công Thương. Ở bài báo này, tác giả đã nghiên cún hướng phát triển dịch vụ du lịch trong thời đại công nghệ sổ.
Tác giả đã trình bày các cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu phát triển hoạt động r kinh doanh dịch • vụ• du lịch • trực • tuyên. ụ Đặng Thuỳ Trang (2021), "Những nhân tô tác động đền quản lý nhà nước địa phương cấp tỉnh về dịch vụ du lịch ”, Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 20, tháng 8 năm 2021. Ớ công trình nghiên cứu này, tác già đã đưa ra những khái niệm về dịch vụ du lịch và quản lý nhà nước về du lịch, phân tích đặc điểm cùa quản lý nhà 6 nước vê dịch vụ du lịch; đưa ra một sô nội dung quản lý nhà nước cơ bản vê dịch vụ du lịch trên địa bàn cấp tỉnh. Tác giả đã chỉ ra những nhân tố tác động tới quản lý dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để từ đó làm cơ sở giúp cho các cơ quan chức năng có những chủ trương, chính sách đúng đắn, giúp cho các doanh nghiệp du lịch có hướng đi phù hợp để phục hồi và phát triển, nhất là trong bối cảnh chuẩn bị bước vào kinh doanh trong điều kiện bình thường mới, sau những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19.
Cao Ngọc (2021), “Dịch vụ du lịch thuộc ngành dịch vụ ưu tiên phát triển ”, Tạp chí Du lịch. Bài báo đã tiếp cận dịch vụ du lịch dưới góc độ là một trong những ngành dịch vụ được ưu tiên phát triển theo Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được ban hành kèm theo Quyết định số 531/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu sinh đi sâu nghiên cứu một số loại hình dịch vụ du lịch, tiêu biểu như sau: • • • • ' Nguyễn Văn Họp (2014), “Giải pháp quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững (Nghiên cứu diêm vườn quốc gia Cúc Phương)", Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án làm rõ và xác định sứ mệnh, tầm nhìn cho các vườn quốc gia Việt Nam và từ đó đề xuất mô hình tổ chức quản lý đối với các vườn quốc gia nhằm tạo ra cơ chế quản lý đồng bộ, hiệu quả; tạo sự phối hợp thuận lợi, chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý tài nguyên rừng và khai thác nguồn tài nguyên du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia.
Mô hình tổ chức quản lý được đề xuất thì các vườn quốc gia sẽ được quản lý tập trung tại cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, hơn thế nữa do các vườn quốc gia có sứ mệnh và tàm nhìn mới là ngoài chức năng là một tài nguyên rừng vườn quốc gia còn là một tài nguyên du lịch đặc trưng do vậy việc quản lý khai thác vườn quốc gia phải có sự tham gia của các cơ quan chức năng về du 7 lịch. Luận án đã xác định vai trò của Ban quản lý vườn quôc gia trong việc quản lý và khai thác du lịch sinh thái theo hướng phát triển bền vững đồng thời đề xuất mô hình tổ chức quản lý cho các vườn quốc gia. Theo mô hình tổ chức quản lý này ngoài chức năng, nhiệm vụ công ích là bảo tồn đa dạng sinh học như đang thực hiện thì vườn quốc gia cần nâng cao vai trò, nhiệm vụ kinh doanh du lịch sinh thái nhằm tạo nguồn thu để góp phần kinh phí cho nhiệm vụ bảo tồn, giảm sức ép đối với ngân sách nhà nước. Luận án đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái bền vững cho các vườn quốc gia nhằm tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan trong việc tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên du lịch ở vườn quốc gia.
Các bên tham gia trong mô hình phát triến du lịch sinh thái bền vững tại các vườn quốc gia bao gồm: Ban quản lý vườn quốc gia, cộng đồng dân cư địa phương, các doanh nghiệp du lịch và khách du lịch. Luận án cũng đề xuất xây dựng phương án khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững vừa đảm bão việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Luận án đề xuất cơ sở xác định giá vé vào cửa cho các vườn quốc gia đó là sử dụng phương pháp ước lượng mức sẵn lòng chi trả của du khách khi đến tham quan vườn quốc gia. Phạm Thị Khánh Ngọc (2017), “Nghiên cứu các nhân tổ tác động đen sự• hài lòng của khách du lịch • MICE nội •I địa • tại Việt Nam - Lấy ví dụ điên • • ự % hình tại thành phố Hải Phòng ”, Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận án đã phân tích và kiểm định sự tác động của các nhân tố tới sự hài lòng của khách du lịch MICE cụ thể là hình ảnh điểm đến, giá trị nhận thức của khách du lịch MICE khi có tác động cùa người thứ ba (người mua tổ chức). Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra năng lực đơn vị tổ chức là nhân tố ngoại sinh có tác động lên sự hài lòng của khách du lịch MICE. Việc kiểm chứng và khẳng định có sự tác động năng lực đơn vị tồ chức đến sự hài lòng của khách du lịch MICE là điểm khác biệt của nghiên cứu này so với các 8 nghiên cứu trước và là điêm mới của luận án. Kêt quả nghiên cứu khăng định có sự tác động thuận chiều của các nhân tố đến sự hài lòng của khách du lịch MICE bao gồm hình ảnh điểm đến, giá trị nhận thức và năng lực đơn vị tổ chức.
Trong đó, nhân tố mới được bổ sung là năng lực đơn vị tổ chức và là nhân tố ngoại sinh. Ngoài việc chứng minh các nhân tổ có tác động tới sự hài lòng của khách du lịch MICE, nghiên cứu còn kiềm chứng có tác động cùa năng lực đơn vị tổ chức lên hình ảnh điểm đến và giá trị nhận thức, tác động của hình ảnh điểm đến tới giá trị nhận thức của khách du lịch MICE. Nghiên cứu làm rõ mức độ tác động cúa các thành phần trong nhân tố năng lực đơn vị tổ chức là năng lực lựa chọn và cung cấp thông tin và năng lực tổ chức của đơn vị tố chức du lịch MICE. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra những đề xuất giúp cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp du lịch tham kháo vận dụng trong quá trình quản lý điều hành, phục vụ khách du lịch MICE và có thể điều chỉnh phần nào những nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch MICE, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong kinh doanh du lịch MICE nói chung và Hải Phòng nói riêng.