Tổng quan nghiên cứu
Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được thành lập theo Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 18/12/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, sở hữu tổng diện tích quy hoạch 2.736 ha trải rộng trên địa bàn 7 xã thuộc huyện Gia Viễn. Đây là vùng đất ngập nước nội đồng lớn nhất khu vực đồng bằng Bắc Bộ, lưu giữ hệ sinh thái kép độc đáo kết hợp giữa núi đá vôi karst ngập nước và đầm lầy tự nhiên hoang sơ. Khu bảo tồn là sinh cảnh sinh sống trọng yếu của quần thể Voọc quần đùi trắng (Trachypithecus delacouri) với khoảng 100 cá thể, thuộc danh mục 25 loài linh trưởng nguy cấp hàng đầu thế giới.
Tốc độ gia tăng của hoạt động du lịch với trung bình hơn 50.000 lượt khách mỗi năm đang tạo ra sức ép đáng kể lên tài nguyên sinh vật và môi trường cảnh quan. Tình trạng phát sinh rác thải cục bộ, áp lực khai thác thủy sản, chăn thả gia súc tự do và nguy cơ cháy rừng đặt ra yêu cầu cấp bách về việc cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế du lịch địa phương.
Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện tiềm năng sinh thái và du lịch nhân văn, phân tích thực trạng khai thác du lịch cộng đồng, nhận diện các nhân tố tác động then chốt và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 7 xã vùng đệm và vùng lõi thuộc huyện Gia Viễn trong giai đoạn 2014 đến 2016. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao sinh kế cho hơn 700 lao động địa phương, hướng tới kiểm soát 100% nguồn phát thải và duy trì tính toàn vẹn sinh thái cho khu bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng nền tảng dựa trên Khung lý thuyết phát triển du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới ban hành năm 2005, khẳng định sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: bảo tồn môi trường sinh thái, tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng văn hóa - xã hội. Nghiên cứu tích hợp 10 nguyên tắc phát triển bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới, đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc sử dụng tài nguyên có kiểm soát, giảm thiểu suy thoái sinh cảnh và tối đa hóa sự tham gia của cộng đồng bản địa.
Bên cạnh đó, khung lý thuyết Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được vận dụng để phân tích cơ chế đồng quản trị và chuỗi giá trị du lịch. Nghiên cứu hệ thống hóa 4 khái niệm trung tâm bao gồm: sức chứa sinh thái của vùng đất ngập nước, đa dạng sinh học núi đá vôi karst, mô hình du lịch lưu trú tại nhà dân (homestay) và quản trị tài nguyên thiên nhiên chung theo các quy định của Luật Du lịch năm 2005.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp từ Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, Phòng Thống kê huyện Gia Viễn và hệ thống điều tra ngoại nghiệp sơ cấp chuyên sâu. Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 170 đối tượng, được phân bổ khoa học: 100 phiếu dành cho khách du lịch nội địa và quốc tế, 50 phiếu phỏng vấn hộ gia đình và 20 phiếu dành cho cán bộ quản lý cùng đại diện các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được thực hiện tại 3 xã đại diện trọng điểm gồm Gia Vân (trung tâm khai thác du lịch chính), Gia Hòa (chiếm hơn 33% diện tích tự nhiên với 3 thôn vùng lõi) và Gia Hưng (nơi có 2 thôn vùng lõi và nhiều di tích lịch sử văn hóa). Công cụ điều tra sử dụng thang đo khoảng Likert 5 mức độ từ 1 điểm (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 điểm (rất đồng ý) nhằm định lượng hóa mức độ hài lòng và nhận thức bảo tồn.
Đồng thời, tác giả tiến hành khảo sát thực nghiệm cân đo trực tiếp khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh liên tục trong 10 ngày từ ngày 10/10 đến ngày 20/10/2016 trên 2 tuyến du lịch trọng điểm. Dữ liệu được xử lý thông qua phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tương quan và xây dựng ma trận SWOT. Tổ hợp phương pháp này bảo đảm tính khách quan, liên kết đa chiều giữa các bên liên quan và cung cấp luận cứ định lượng tin cậy cho công tác hoạch định chính sách.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Tiềm năng sinh thái tại Vân Long đạt mức độ đa dạng vượt trội với 687 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 144 họ, 266 loài cây thuốc quý, 35 loài thực vật thủy sinh và 258 loài vi tảo đầm lầy. Khu hệ động vật ghi nhận 39 loài thú, 100 loài chim, 38 loài bò sát - ếch nhái và 54 loài cá đặc trưng. Đáng chú ý, có 39 loài nguy cấp nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, trong đó quần thể Voọc quần đùi trắng đã tăng trưởng ngoạn mục từ 43 cá thể năm 2001 lên khoảng 100 cá thể năm 2016 nhờ các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Mô hình du lịch cộng đồng bước đầu mang lại chuyển biến kinh tế tích cực. Riêng tại xã Gia Vân, hoạt động du lịch đã giải quyết việc làm ổn định cho hơn 700 lao động địa phương, giúp chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ dân từng phụ thuộc vào săn bắn chim hoang dã và khai thác gỗ sang chở đò nan, phục vụ ăn uống. Thu nhập bình quân của lao động dịch vụ đạt 1.000.000 đến 2.000.000 đồng/người/tháng, cao hơn khoảng 40% đến 60% so với canh tác thuần nông. Toàn xã đã phát triển được 26 ngôi nhà truyền thống đủ tiêu chuẩn phục vụ khách lưu trú trải nghiệm văn hóa đồng quê.
Áp lực môi trường gia tăng cục bộ theo mật độ du khách. Kết quả điều tra thực nghiệm 10 ngày cho thấy khối lượng rác thải tỷ lệ thuận trực tiếp với số lượng khách tham quan trên Tuyến 1 (Đầm Cút - Thung Lá) và Tuyến 2 (Ngắm Voọc núi Đồng Quyển). Cơ sở hạ tầng bến thuyền và công trình vệ sinh công cộng còn thiếu hụt, với hơn 75% lượng rác thải chưa được phân loại triệt để tại nguồn phát sinh.
Thảo luận kết quả
Mô hình bảo tồn gắn với du lịch tại Vân Long có nhiều điểm tương đồng với Vườn Quốc gia Cúc Phương trong việc triển khai cơ chế giao khoán dịch vụ và phát triển các tuyến chuyên đề quan sát động vật hoang dã. Tuy nhiên, Vân Long còn hạn chế về chuỗi giá trị bổ trợ khi thời gian lưu trú của du khách chỉ đạt bình quân 1 ngày, tương tự vấn đề từng ghi nhận tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Mức độ hài lòng của du khách được thể hiện rõ qua bảng tổng hợp điểm Likert, đạt mức trung bình 4,1/5 điểm về cảnh quan tự nhiên hoang sơ nhưng chỉ đạt 2,8/5 điểm đối với hệ thống vệ sinh và cơ sở lưu trú. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn đầu tư hạ tầng nông thôn còn hạn hẹp, sự liên kết giữa doanh nghiệp lữ hành và người dân bản địa còn mang tính tự phát.
Dữ liệu nghiên cứu mô tả mối quan hệ giữa lượng khách và lượng chất thải qua biểu đồ đường tuyến tính cho thấy nguy cơ quá tải sinh thái vào các mùa lễ hội cao điểm. Để khắc phục, khu bảo tồn cần áp dụng kinh nghiệm từ mô hình du lịch cộng đồng Tà Lài tại Vườn Quốc gia Cát Tiên trong việc thành lập quỹ tự quản và trích lại 10% đến 15% doanh thu để tái đầu tư bảo vệ rừng.
Đề xuất và khuyến nghị
Hoàn thiện cơ chế chính sách và phân chia lợi ích: Ủy ban nhân dân huyện Gia Viễn phối hợp cùng Ban quản lý Khu bảo tồn xây dựng quy chế phân phối nguồn thu rõ ràng, áp dụng trích nộp từ 10% đến 12% doanh thu bán vé tham quan để tái đầu tư cho Quỹ tuần tra bảo vệ rừng và hỗ trợ 438 hộ dân vùng lõi chuyển đổi sinh kế, hoàn thành trong giai đoạn 2017-2018.
Nâng cấp hạ tầng du lịch gắn liền kiểm soát sức chứa sinh thái: Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình cần phê duyệt dự án đầu tư 100% hệ thống thùng rác phân loại chuyên dụng dọc 35km đường bao quanh khu bảo tồn, xây dựng 3 cụm nhà vệ sinh sinh thái đạt chuẩn tại các bến thuyền thôn Tập Ninh và Đầm Cút, đồng thời thiết lập ngưỡng giới hạn tối đa không quá 1.500 lượt khách/ngày trên các tuyến đầm ngập nước, thực hiện từ năm 2017 đến năm 2019.
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái và kéo dài thời gian lưu trú: Hiệp hội Du lịch tỉnh Ninh Bình chủ trì kết nối các doanh nghiệp lữ hành mở rộng 4 tour trải nghiệm đặc trưng: ngắm Voọc lúc hoàng hôn tại núi Đồng Quyển, đạp xe trải nghiệm 5 thôn cổ xã Gia Vân, khám phá văn hóa tâm linh đền Thung Lá - động Hoa Lư và trải nghiệm canh tác nông nghiệp truyền thống, mục tiêu nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm tăng thêm 25% vào năm 2020.
Chuẩn hóa và đào tạo nguồn nhân lực du lịch bản địa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình tổ chức 10 khóa đào tạo tập trung cho 100% đội ngũ chèo thuyền đò, hướng dẫn viên tại chỗ và 26 hộ kinh doanh homestay về kỹ năng diễn giải môi trường, ngoại ngữ giao tiếp cơ bản và nghiệp vụ an toàn cứu hộ đường thủy, triển khai liên tục từ năm 2017 đến năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên - môi trường: Tài liệu cung cấp khung phương pháp đánh giá sức chứa sinh thái, kiểm soát rác thải thực địa và xây dựng quy chế đồng quản trị rừng đặc dụng hiệu quả.
Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư phát triển du lịch sinh thái: Cung cấp dữ liệu chi tiết về thị hiếu của hơn 50.000 lượt du khách hàng năm, phân tích cơ cấu chi tiêu và gợi ý thiết kế các gói sản phẩm homestay trải nghiệm văn hóa làng quê châu thổ sông Hồng.
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp và Du lịch học: Đóng vai trò là công trình tham khảo về kỹ thuật kết hợp dữ liệu điều tra thực địa sinh học với phân tích xã hội học định lượng qua thang đo Likert và ma trận SWOT.
Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới cộng đồng bảo tồn đa dạng sinh học: Cung cấp bài học thực tiễn về cơ chế chia sẻ lợi ích, giải quyết việc làm cho hơn 700 lao động nông thôn và nâng cao nhận thức bảo vệ các loài linh trưởng nguy cấp như Voọc mông trắng.
Câu hỏi thường gặp
Giá trị sinh thái đặc biệt nhất của Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long là gì?
Vân Long là khu đất ngập nước nội đồng lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ, bảo tồn đồng thời hai hệ sinh thái núi đá vôi karst và đầm nước ngọt tự nhiên. Nơi đây là sinh cảnh sống của khoảng 100 cá thể Voọc quần đùi trắng quý hiếm cùng 39 loài sinh vật được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam.
Hoạt động du lịch cộng đồng tại Vân Long mang lại hiệu quả kinh tế xã hội như thế nào?
Du lịch sinh thái tạo việc làm thường xuyên cho hơn 700 lao động tại xã Gia Vân, giúp người dân đạt thu nhập từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng/tháng. Hoạt động này góp phần chuyển đổi sinh kế bền vững cho hàng trăm hộ dân từ khai thác tự nhiên sang dịch vụ đò nan và homestay.
Thách thức lớn nhất đối với môi trường sinh thái tại Vân Long hiện nay là gì?
Khối lượng rác thải sinh hoạt tăng mạnh tỷ lệ thuận với lượng du khách trên các tuyến tham quan đầm lầy. Hạ tầng xử lý chất thải chưa đồng bộ, cùng với áp lực chăn thả gia súc tự do và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm đang đe dọa trực tiếp môi trường sống của các loài thủy sinh.
Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát nào để đánh giá ý kiến của các bên liên quan?
Tác giả thực hiện khảo sát 170 phiếu điều tra theo thang đo khoảng Likert 5 mức độ trên 3 nhóm đối tượng: 100 khách du lịch, 50 hộ dân địa phương và 20 cán bộ quản lý cùng doanh nghiệp. Dữ liệu được xử lý qua thống kê mô tả và phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức.
Giải pháp trọng tâm nào giúp nâng cao tính bền vững cho du lịch Vân Long trong tương lai?
Giải pháp then chốt là thiết lập cơ chế trích 10% đến 12% doanh thu du lịch để tài trợ Quỹ bảo tồn, quy hoạch ngưỡng sức chứa dưới 1.500 khách/ngày, chuẩn hóa đào tạo nghiệp vụ cho 100% người chèo đò và nhân rộng 26 mô hình homestay truyền thống gắn liền với bảo vệ loài Voọc mông trắng.
Kết luận
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Linh đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp nổi bật:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học với 687 loài thực vật và 39 loài quý hiếm tại khu bảo tồn.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng, ghi nhận đóng góp việc làm cho hơn 700 lao động địa phương.
- Định lượng hóa thành công mối tương quan giữa lượng du khách và khối lượng rác thải thực nghiệm qua khảo sát 10 ngày.
- Nhận diện các điểm nghẽn về hạ tầng vệ sinh và năng lực phục vụ thông qua phân tích ma trận SWOT chuyên sâu.
- Đề xuất khung 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình cụ thể đến năm 2020 nhằm bảo tồn loài Voọc quần đùi trắng.
Công trình khẳng định phát triển du lịch sinh thái là chìa khóa then chốt để dung hòa giữa bài toán bảo tồn thiên nhiên và nâng cao sinh kế vùng đệm. Các cấp chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư cần phối hợp hành động ngay hôm nay để thực thi đồng bộ hệ thống giải pháp, đưa Khu bảo tồn Vân Long trở thành mô hình mẫu về du lịch sinh thái đất ngập nước bền vững tại Việt Nam.