Chương I, nêu khái niệm về du lịch: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [17]. Nhìn dưới góc nhìn của các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó đã được công nhận là một ngành kinh tế phục vụ mọi nhu cầu của khách du lịch như: tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, cũng có thể kết hợp với các hoạt động thể thao, nghiên cứu khoa học, chữa bệnh. của khách. 12 Ở một khía cạnh phân tích khác dưới góc độ nghĩa của từ, Du lịch là một từ, một khái niệm Hán - Việt, có gốc Hoa - Hán.
Tra cứu cuốn “Hán tự tố nguyên, bản dịch của tác giả Lý Nhạc Nghị, nhà xuất bản thế giới mới Hà Nội, 1997 thì chữ “DU” có nghĩa là gốc, là lá cờ hoặc tua cờ để trang trí, sau thêm bộ thủy là hàm chứa ý chuyển động như nước chảy, như chân đi. Tạm dịch là chơi, đi chơi, rong chơi. Chữ “LỊCH” có giáp cốt văn giống như một bàn chân đi qua rừng và có vách đá sau đó. Có thể dịch là trải qua hoặc trải nghiệm.
Vậy có thể hiểu nghĩa của từ “Du lịch” là “đi chơi” và “trải nghiệm”. Dù có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ Du lịch, song để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể hiểu là: - Cá nhân hay tập thể di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi bên ngoài nơi cư trú hàng ngày của mình nhằm mục đích nghỉ dưỡng, mở rộng nhận thức về thế giới xung quanh. - Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ như: đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng ….nhằm thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân hay tập thể nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú.
Như vậy, trong luận văn này định nghĩa khái niệm du lịch là: Du lịch là một hiện tượng xuất phát từ mong muốn của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu về sự trải nghiệm, nghĩ dưỡng…và trong quá trình đi du lịch đã nảy sinh nhiều hoạt động của cá nhân hay tập thể tại điểm đến, sự tác động đó làm cho điểm đến có nhiều thay đổi. Khái niệm Quản lý nhà nước về du lịch QLNN về du lịch là hoạt động chức năng, mang tính quyền lực của Nhà nước. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về du lịch là quá trình sử dụng pháp luật, chính sách để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động du lịch diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được các mục tiêu đảm bảo phát triển 13 du lịch mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hoá; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về du lịch là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các hoạt động du lịch trong quy định của pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Một số tác giả cũng đưa ra khái niệm QLNN về du lịch như sau: Theo tác giả Trần Như Đào, “QLNN về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều hành liên tục bằng quyền lực công cộng chủ yếu thông qua pháp luật dựa trên nền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra” [6]. Tương tự như vậy, tác giả Nguyễn Thị Huy Hoàng có quan điểm: “QLNN về du lịch là sự tác động có tổ chức của Nhà nước thông qua công cụ và phương thức mang bản chất quyền lực nhà nước để điều chỉnh và định hướng cho hoạt động du lịch nhằm đạt được những mục tiêu định trước của Nhà nước”. [11] Từ sự phân tích kể trên và sự kế thừa quan điểm trong các nghiên cứu trước đó, trong luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm QLNN về du lịch như sau: “QLNN về du lịch là sự tác động của các cơ quan quản lý bằng quyền lực của Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật đối với các hoạt động du lịch nhằm mục đích tạo ra sự thống nhất, minh bạch, công bằng trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển bền vững du lịch”. Như vậy trong QLNN về du lịch có các yếu tố sau đây: Thứ nhất, chủ thể quản lý là các cơ quan đại diện của Nhà nước hoặc được nhà nước trao quyền, ủy quyền, Đây là chủ thể duy nhất trong QLNN.
14 - Các cơ quan QLNN về du lịch cấp Trung ương bao gồm: + Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối. + Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch như: Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ ngoại giao. + Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch quốc gia sao cho quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch đó vừa phù hợp với thực tế tại địa phương và đạt hiệu quả cao nhất. + Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã.
Thứ hai, đối tượng quản lý là các hoạt động, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch như các đơn vị kinh doanh lưu trú: nhà nghỉ, khách sạn, homstay…Khách du lịch, các đơn vị kinh doanh ăn uống…. Thứ ba, mục đích QLNN về du lịch là tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển bền vững du lịch trên cả ba phương diện kinh tế - văn hóa, xã hội – môi trường. Thứ tư, công cụ quản lý là hệ thống các quy định của pháp luật, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch. Vai trò của quản lý nhà nƣớc về du lịch Thứ nhất, định hướng cho hoạt động du lịch ở mỗi địa phương phát triển bền vững.
Điều này có nghĩa là định hướng việc khai thác tiềm năng phát triển du lịch (bao gồm tài nguyên tự nhiên, môi trường và tài nguyên nhân văn) ở mỗi địa phương nhằm phát triển kinh tế gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, bảo vệ môi trường song vẫn giữ gìn các giá trị và bản sắc văn hóa địa phương bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. 15 Các hoạt động QLNN về du lịch nhằm đảm bảo việc phát triển du lịch đi đúng hướng phát triển du lịch bền vững, nghĩa là gắn phát triển du lịch với phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở khai thác khai thác hiệu quả tối đa tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương nhưng bảo vệ được môi trường sinh thái, hạn chế, ngăn chặn những mặt tiêu cực trong việc phát triển du lịch mang lại như tình trạng ô nhiễm môi trường, phức tạp trong an ninh trật tự,. Việc định hướng phát triển du lịch dài hạn góp phần định hướng, phân bổ nguồn ngân sách đầu tư và kêu gọi đầu tư từ các tập đoàn, tổ chức cá nhân, doanh nghiệp một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm. Sự quản lý của nhà nước về du lịch thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát sẽ giúp cho các doanh nghiệp có mội trường hoạt động bình đẳng, minh bạch trong khuôn khổ cho phép của luật pháp.
Nó cũng loại dần dần các tổ chức, doanh nghiệp có các hành vi kinh doanh phạm pháp, thiếu văn minh, cạnh tranh không lành mạnh hoặc đơn thuần chạy theo lợi nhuận phá hoại môi trường sinh thái tự nhiên, phá hoại môi trường xã hội gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội hoặc cộng đồng dân cư địa phương. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ngoài nhiệm vụ hoạch định kế hoạch phát triển, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhanh cải cách các thủ tục hành chính, nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xúc tiến đầu tư, trong việc xin cấp giấy phép hoạt động kinh doanh du lịch của doanh nghiệp, từ đó tạo môi trường thuận lợi để cho các doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Thứ hai, hình thành và hoàn thiện môi trường pháp lý đồng bộ, toàn diện, ổn định cho hoạt động du lịch trong cả nước, cho từng vùng và từng địa phương cụ thể. 16 Đối với mỗi lĩnh vực trong đời sống con người thì mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều phải tuân thủ các quy định pháp luật trong môi trường pháp lý liên quan đến lĩnh vực đó.
Lĩnh vực du lịch cũng không nằm ngoài quy luật như vậy. Môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực du lịch mà chủ thể thực hiện các hoạt động du lịch có các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ, bên cạnh đó có bao gồm cả các nghĩa vụ phải thực hiện. QLNN về du lịch tạo các điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước chủ động nghiên cứu, triển khai, rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, quy định khuyến khích phát triển du lịch, tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hút các nhà đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho khách du lịch cả nội địa và quốc tế,… Thứ ba, đảm bảo hài hoà về việc chia sẻ quyền lợi giữa cộng đồng dân cư địa phương, nhà đầu tư du lịch và khách du lịch; Dung hoà mối quan hệ và lợi ích giữa ngành du lịch với các ngành kinh tế khác liên quan; Du lịch có mối quan hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác trong xã hội, do đó, du lịch có sự tác động và chịu sự tác động từ các ngành kinh tế khác.