MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất.
Vấn đề Bảo tồn Đa dạng sinh học (ĐDSH) có ý nghĩa chiến lược trong thời đại hiện nay. Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất”, bởi vì sự Đa dạng sinh học liên quan đến sự sống của trái đất. Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới, nên vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là một yêu cầu rất cấp bách, đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới điều đó. Nước ta là một nước có đa dạng sinh học cao và là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng tới vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là một yêu cầu rất cấp bách từ lâu.Một số thành tựu đạt được như sau: Theo số liệu của Bộ NN&PTNT Đến nay cả nước ta đã có tới 32 Vườn Quốc gia (VQG) và hàng trăm khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) được Nhà nước công nhận.
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Caitagena về an toàn sinh học”. Một trong những mục tiêu cụ thể của bản kế hoạch đã được phê duyệt là từ nay đến năm 2010 củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ có hiệu quả các loài động vật, thực vật quý hiếm, nguy cấp có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục hồi hệ sinh thái đã bị suy thoái. Hệ sinh thái núi đá vôi Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, với diện tích 1.000 ha, hệ sinh thái núi đá vôi chiếm 6,1% tổng diện h 2 tích đất lâm nghiệp (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2011), nhưng trong đó chỉ có 396.200 ha rừng, còn lại là núi đá vôi với cây bụi, hay đồi trọc. Mặc dù diện tích rừng củahệ sinh thái núi núi đá vôi chỉ chiếm 34,4% tổng diện tích núi đá vôi, nhưng tại đây, thời gian qua các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu ( trung tâm.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng có diện tích 10.000 ha, hiện vẫn bảo tồn nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và các hệ sinh thái độc đáo, đặc thù. Song đến nay Khu BTTN vẫn chưa được công nhận là Vườn quốc gia và đang dần bị "lãng quên". Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đến nay rừng đã bị chặt phá nhiều, đa dạng sinh học vùng Phia Oắc, Phia Đén đã và đang bị suy giảm về cả số lượng và chất lượng. Vì vậy, chúng tôi thực hiện khóa luận “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ ở các sinh cảnh khác nhau tại xã Thành Công.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng” góp phần bảo tồn và phát triển các nguồn gen thực vật thân gỗ, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu vực và nâng cao vai trò của Khu bảo tồn thiên nhiên núi Phia Oắc - Phia Đén đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Cao Bằng và cộng đồng dân cư sinh sống quanh khu vực này. Mục tiêu của đề tài. - Xác định được tính đa dạng về thực vật thân gỗ tại xã Thành Công. Khu BTTN Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Xây dựng được cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại xã Thành Công, khu BTTN Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng. - Xác định được những tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại xã Thành Công. Khu BTTN Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. h 3 - Đề xuất được một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật thân gỗ nói riêng và hệ thực vật nói chung tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa khoa học Thống kê, đánh giá được tình trạng các loài thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng giúp ích cho công tác bảo tồn các loài thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén cũng như bảo tồn các loài thực vật tại Việt Nam và trên thế giới 1. Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá được thực trạng các loài thực vật thân gỗ, xác định được các loài thực vật thân gỗ thuộc nhiều sinh cảnh khác nhau tại xã Thành Công thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng Góp phần chứng minh sự đa dạng loài, hệ thực vật, sinh cảnh tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng. Góp phần đưa khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng thành khu bảo tồn thiên nhiên được nhà nước công nhận.
h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Những nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về thảm thực vật Thảm thực vật rừng hay lớp phủ cây cỏ trên mặt trái đất, gồm các quần thể thực vật thân gỗ, không những cung cấp lâm sản phục vụ cho đời sống con người, mà còn có tác d ụng bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tác hại của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão l ốc,. Phân loại thảm thực vật là một nội dung quan trọng được nhiều nhà nghiên c ứu quan tâm.
Thảm thực vật được hình thành, tồn tại và phát tri ển trên nhiều điều kiện khác nhau. Vì vậy, sắp xếp và phân loại chúng là vấn đề rất khó và đã có nhiều hệ thống phân loại khác nhau. Nghiên cứu về thực vật thân gỗ Kuznetsov A. và cs (2011) [12], đã nghiên cứu trong hầu hết các kiểu rừng nhiệt đới gió mùa điển hình.
Kết quả đã thống kê được những cây gỗ thuộc 119 họ thực vật, trong đó có 8 họ hạt trần, 110 họ thực vật có hoa và 1 họ thực vật bào tử. Từ 119 họ, có tới 3140 loài cây gỗ, đặc biệt có 10 họ với số lượng loài rất lớn có tới 1720 loài cùng với 10 chi lớn nhất chứa 574 loài. Các nghiên cứu về thực vật trên núi đá vôi Viện Lâm nghiệp Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Tông dù, Mắc rạc (Dầu choòng), Xoan nhừ, Lát hoa, Nghiến,. trong thời kỳ 1985-1998.
Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Lâm nghiệp đầu ngành của nước này và nh ững hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng. Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này h 5 cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm. Những nghiên cứu ở Việt Nam 2. Nghiên cứu về thảm thực vật Trần Ngũ Phương (1970) [16] xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam gồm có các đai rừng và kiểu rừng.
Nhưng do không đứng trên quan điểm sinh thái phát sinh nên bảng phân loại này cũng chỉ là một bảng kể tên các kiểu quần hệ và xã hợp, ưu hợp thực vật đã điều tra được mà không làm nổi bật được quan hệ nhân quả giữa thảm thực vật và các điều kiện của môi trường. Mặt khác do không nghiên cứu vùng phân bố, lịch sử và thành phần của hệ thực vật Việt Nam, nên không lý giải được vì sao ở vùng này l ại có kiểu phụ này, ở vùng khác, độ cao khác lại có loại hình khác, kiểu phụ khác. Dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đưa ra khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam, có thể thể hiện được trên bản đồ 1:2. Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ, mỗi một phân lớp quần hệ lại phân thành các nhóm quần hệ và thấp nhất là phân quần hệ.
Bảng phân loại này đã được một số tác giả áp dụng: Lê Đồng Tấn (2002) [22], Lê Ngọc Công (2004) [3], Trần Văn Thụy và cs (2006) [28], Trần Văn Hoàn và cs (2009) [11], Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (2011) [24]… 2. Nghiên cứu về thực vật thân gỗ “Thực vật thân gỗ là cây sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp, hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh, trên thân chính phân cành bên và chồi mang vòm lá” (Võ Văn Chi, 2003) [5]. Cây gỗ là thực vật sống lâu năm, có thân hóa gỗ mọc thẳng và phát triển mạnh hơn các bộ phận khác (cao trên 5m). Cây gỗ là dạng sống quan trọng và thống trị trong hệ sinh thái rừng (Trần Văn Con, 2008) [6].
h 6 Đặng Văn Sơn (2009) [21], đã chia dạng sống hệ thực vật Củ Chi thành 3 nhóm cây gỗ gồm: cây gỗ lớn (25m), cây gỗ vừa (15-25m), cây gỗ nhỏ (15m) và 1 nhóm cây bụi. Các nghiên cứu về thực vật trên núi đá vôi Các nhà nghiên cứu quốc tế xem Đông Nam Á với diện tích các khu vực đá vôi 460.000km 2, xấp xỉ 10% tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng là một trong những vùng ca xtơ quan trọng trên thế giới. Năm 1997, Ủy Ban Thế Giới về các khu bảo tồn và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã công nhận các cảnh quan caxtơ là khu vực bị đe dọa cần được bảo vệ. Theo sách “Thông Việt Nam, nghiên cứu hiện trạng bảo tồn, 2004” (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2004) [8], nước ta hiện nay có 33 loài thông được xếp vào danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp thế giới và quốc gia, trong đó có 16 loài chỉ gặp trên núi đá vôi.