phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông huyện Tiền Hải,tỉnh Thái bình. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Đã có nhiều t¸c gi¶ nghiên cứu về đề tài phát triển đội ngũ giáo viên nh- t¸c gi¶ NguyÔn Quèc ChÝ - NguyÔn ThÞ Mü Léc n¨m 2003, “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI ”của tác giả Trần Khánh Đức, các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng có một số tác giả viết về đề tài như là “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” của tác giả Trần Thị Vân Anh, tỉnh Nam Định Đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông Hải Hậu B tỉnh Nam Định” của tác giả Nguyễn Thị Dung, tỉnh Nam Định Đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông Hùng Vương, tỉnh Phú thọ trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đặng Minh Tiến, tỉnh Phú Thọ Song ở tỉnh Thái Bình cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông; vì vậy chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Tiền Hải; trên cơ sở đó đề ra biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT để áp dụng khả thi trên địa bàn huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 1.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Đội ngũ giáo viên Có nhiều cách hiểu về đội ngũ khác nhau, ngày nay khái niệm về đội ngũ dùng cho các tổ chức xã hội rộng rãi như đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ văn nghệ sỹ.đều xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ “Đó là một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng: Đội ngũ chỉnh tề”. Theo lý luận về khoa học quản lý thì đây là một đội công tác, trong đó các cá nhân kết hợp với nhau, thường xuyên trau dồi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau để đạt được mục tiêu và kế hoạch của tổ chức đặt ra, Vậy đội ngũ lao động gồm những người lao động tức là nguồn nhân lực được sử dụng vào một công việc nào đó. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc.
Có thể hiểu rõ hơn về đội ngũ, theo từ điển Tiếng Việt (2000) “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức)và cùng chung một mục đích nhất định”[30, tr. 339] Khi đề cập đến đội ngũ giáo viên, theo tác giả Virgil K.Row land đã nêu lên quan niệm: “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”[19, tr. Từ những quan niệm nêu trên ta có thể hiểu đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của Luật giáo dục và Điều lệ nhà trường 1.
Phát triển Thuật ngữ phát triển theo triết học là: “Biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lý luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: Mọi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự vật, hiện tượng không chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là ở sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái, cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đến những biến đổi chuyển hóa về chất và ngược lại.
Con đường xu hướng của sự phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp từ thấp đến cao từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có thể là một qúa trình thực hiện nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng. Những đặc trưng cơ bản của phát triển được biểu hiện như: - Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ tác động qua lại và quy định lẫn nhau. - Phát triển là quá trình vận động không ngừng.
- Phát triển từ những thay đổi về số lượng được chuyển hóa thành những thay đổi về chất lượng - Phát triển thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. - Phát triển có thể diễn ra bằng cách chuyển hóa, xoáy ốc và nhảy vọt. Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước đi lên một cách bền vững gọi là phát triển bền vững. Phải đảm bảo cho nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển bền vững được chỉ đạo bằng tư duy lý luận trên cơ sở có sự phát triển bền vững của môi trường.
Trong đó phát triển bền vững giáo dục là một vấn đề vô cùng quan trọng vì nó quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế, văn hóa, xã hội 1. Quản lý, biện pháp quản lý -Quản lý 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Lao động muốn đạt hiệu quả, năng xuất cao hơn thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp điều chỉnh.Hoạt động quản lý là hoạt động của người lãnh đạo phối hợp và phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong nhóm trong tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tùy theo các quan điểm tiếp cận khác nhau.
- Thuật ngữ quản lý (Từ Hán Việt )lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn nó gồm hai quá trình luôn đan xen và và hòa quyện vào nhau. “Quản” là qúa trình bao hàm sự coi sóc, giữ gìn nhằm duy trì hệ thống ở trạng thái “Ổn định”. “Lý” là quá trình bao hàm sự sửa sang sắp xếp đổi mới nhằm đưa hệ thống vào thế “Phát triển” Nếu trong hoạt động quản lý, nhà quản lý chỉ chú trọng đến “Quản”thì tổ chức dễ dẫn đến trì trệ bảo thủ. Ngược lại nếu chỉ chú trọng đến “Lý” thì tổ chức lại dễ rơi vào thế mất cân bằng bất ổn định.
Chính vì thế người quản lý phải luôn xác định và biết điều phối tốt sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản” làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở vị trí cân bằng động. Như vậy: Quản lý chính là sự giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát triển luôn tạo ra được thế ổn định của hệ Theo W.Taylor (1856-1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái cần làm và làm cái đó thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [7, tr. 1] Theo Henry Fayon (1841-1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch hóa, tổ chức ,chỉ đạo (Lãnh đạo) và kiểm tra” Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt lên mục tiêu của tổ chức” [7, tr. 46] Theo Mary Parker Pollett thì quản lý là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (Người quản lý )đến khách thể (đối tượng quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình hóa qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý Công cụ Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Phương pháp Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau. Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.