CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục nói chung và người thầy nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”[28, tr. Các nghị quyết của Đảng, Luật Giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục và các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta đều nhất quán đặt ĐNGV vào vị trí trung tâm, được xã hội tôn vinh và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.
Chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV để họ đáp ứng yêu cầu và theo kịp với sự thay đổi, phát triển của giáo dục là trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục, của từng bản thân mỗi giáo viên và của toàn xã hội. ĐNGV là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực xã hội, là nguồn lực cơ bản của ngành GD&ĐT, của một nhà trường; được thừa hưởng tất cả những ưu đãi của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực và cần phải được nghiên cứu đổi mới kịp thời đáp ứng sự thay đổi phát triển của nền giáo dục. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận vững vàng. Có cơ chế, chính sách bảo đảm, phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài” [18, tr.
Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ - TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Hội đồng Quốc gia Giáo dục thực hiện từ tháng 12 năm 2008 đến hết tháng 4 năm 2009: “Phát triển 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế” có 13 nội dung, trong đó có nội dung “Nghiên cứu các chính sách phát triển giáo viên”. Bộ GD&ĐT đang triển khai 14 dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về GD&ĐT đến năm 2020, trong đó có dự án “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”. Gần đây có nhiều Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề này như: - Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Vân Anh về “Biện pháp phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”.
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2010. - Tác giả Đặng Minh Tiến về “Phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2010. - Tác giả Trần Trang Nhung về “Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”.
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2009. - Tác giả Nguyễn Tiến Dũng về “Biện pháp phát triển ĐNGV các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2007. Các tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn công tác phát triển ĐNGV ở địa phương mình, đơn vị mình theo từng điều kiện, đặc điểm của vùng, miền trên địa bàn toàn quốc.
Tổng quan các nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau: - Nghiên cứu về ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục. - Các nghiên cứu về phát triển ĐNGV được tập trung vào hai mảng chính: nghiên cứu phát triển ĐNGV theo từng cấp học; nghiên cứu phát triển ĐNGV cho từng cơ sở giáo dục 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về phát triển ĐNGV trường THPT Mê Linh, thành phố Hà Nội. Như vậy, nghiên cứu về phát triển ĐNGV trường THPT Mê Linh, thành phố Hà Nội là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý a) Khái niệm Hoạt động quản lý đã xuất hiện và tồn tại hàng ngàn năm trước đây. Từ thời Ai Cập cổ đại đến Trung Quốc cổ đại các nhà quân sự đã biết cách tổ chức, quản lý quân đội của họ để đi đến thắng lợi vẻ vang, đó là bằng chứng rõ nhất về hoạt động quản lý. Sử gia Daniel A.
Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”. Tuy nhiên đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý”.Taylo (1856 - 1915) - được đánh giá là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” đã định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[11, tr.Fayol (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp, xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý”. Ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản của quản lý: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[9, tr. 31] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau: Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[21, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”[12, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (gọi chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”[31, tr. Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong hoạt động quản lý, nếu nhà quản lý chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ dẫn đến trì trệ. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức lại rơi vào thế mất cân bằng, không bền vững. Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phải biết điều phối sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Trong quản lý nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các yếu tố khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. b) Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà thông qua chủ thể quản lý tác động điều hành ở mọi cấp. Quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Kế hoạch hoá Kế hoạch hoá là một chức năng quản lý.
Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: - Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; - Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; - Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Tổ chức Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu lực, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Chỉ đạo Chỉ đạo là chức năng quan trọng của quá trình quản lý nhằm hiện thực hóa các mục tiêu và kế hoạch với chất lượng cao.
Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương trật tự. Kiểm tra Kiểm tra là một chức năng cuối cùng trong quá trình quản lý và cũng là tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch cho giai đoạn quản lý tiếp theo. Đó là công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, là việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu của tổ chức, tìm ra 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.