phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của của việc quản lý phát triển ĐNGV THPT theo chuẩn nghề nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ĐNGV các trường THPT ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Quản lý phát triển ĐNGV các trường THPT ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu phát triển ĐNGV ở nước ngoài Sự phát triển của thực tiễn giáo dục đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với GV - những chủ thể quan trọng của quá trình giáo dục trong học đường. Vì lý do đó, các nghiên cứu về GV rất được quan tâm.
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V. Lê Nin đã rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV. Người viết: "Chúng ta phải làm cho GV ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản". Lê Nin yêu cầu phải: "Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của giáo viên.
nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ" [37, tr 241]. Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng GV cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Vì thế, chất lượng ĐNGV đã nhiều nước trên thế giới quan tâm. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một cần có các phẩm chất [31].
* Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; * Kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được "kho kiến thức" về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; * Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; * Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học. Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 - do UNESCO tổ chức đã nói đến những vai trò của người GV trong thời đại mới, đó là: vai trò người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ, vai trò người canh tân. Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng người GV như: - Các chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới nhất; - Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là người thợ dạy (chuyên gia truyền đạt kiến thức). - Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những qui định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền.
Tháng 4 năm 2000, tại Dakar – Senégal, Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng GV là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là GV có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá HS, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học [38, tr 3]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bàn về một số vấn đề đào tạo GV, Michel Develay đã xuất phát từ lý luận về học đến lý luận về dạy để bàn về vấn đề đào tạo GV. Ông quan niệm: “Ðào tạo giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [ 27, tr69 ].
Ở tác phẩm này, Michel Develay cũng đã bàn về các vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV… 1. Nghiên cứu phát triển ĐNGV trường THPT ở Việt Nam Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển ĐNGV gắn liền với lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục nước ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng một cách tích cực nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã hội. Hơn năm mươi năm phát triển giáo dục là hơn năm mươi năm không ngừng xây dựng và phát triển ĐNGV trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Vấn đề phát triển ĐNGV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:. nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy học.
Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.“Các thầy cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”. “các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ” [24, tr. Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển ĐNGV, trong đó có việc nghiên cứu về ĐNGV. Theo đó, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ GTĐT.
Tiêu biểu trong các nghiên cứu đó là những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của ĐNGV các cấp học và mô hình nhân cách của người quản lý nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nghiên cứu về ĐNGV còn được thực hiện dưới góc độ QLGD ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề ĐNGV dưới góc độ QLGD theo ngành, cấp học đã được thực hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của các tác giả: Đặng Quốc Bảo; Nguyễn Thanh Bình; Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Nguyễn Thành Hoàn; Trần Bá Hoành; Nguyễn Sỹ Thư…Việc xây dựng ĐNGV cũng đã được một số công trình nghiên cứu, đề cập.
Tại Hội thảo Khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải. cũng đã đề cập đến việc đào tạo ĐNGV trước nhiệm vụ mới của giáo dục - đào tạo [16]. Những nhà nghiên cứu giáo dục và QLGD thực tiễn rất quan tâm vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng ĐNGV.
Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người GV bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hưởng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến chất lượng GV là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen và năng lực tự học của GV. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [23, tr.
Trong bài “Nghề và Nghiệp của người giáo viên” đăng tải trong Kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập tính chất nghề nghiệp của người giáo viên. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của giáo viên, thôi thúc người giáo viên sáng tạo, thúc đẩy người giáo viên không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề nghị cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó giáo viên trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả [31, tr. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD.
Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục.