Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BẬC ĐẠI HỌC Một trong những điều kiện hết sức quan trọng để thực hiện được mục tiêu này là đào tạo và phát triển NNL, nhân tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “phát triển giáo dục, đào tạo là nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [5]. Thực hiện chủ trương đó, giáo dục, đào tạo ở nước ta đang có những chuyển biến tích cực theo hướng đổi mới triệt để và toàn diện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu NNL phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH và nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy, trong quá trình đổi mới, bên cạnh những thành tích đạt được, giáo dục - đào tạo nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh mạnh mẽ với các nền giáo dục trong khu vực.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên đại học 1.1 Khái quát về giáo dục đại học Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, NCKH và chuyển giao ứng dụng.
Thực ra, khi phân tích kỹ những quan điểm khác nhau về GDĐH, chúng ta có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của GDĐH trong xã hội. GDĐH đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu. Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống GDĐH và một lực lượng lao động. GDĐH truyền cho người học những kiến 8 Luan van thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu.
Có thể nói vắn tắt rằng đại học là “sự hiểu biết ngày càng nhiều hơn về một lĩnh vực ngày càng hẹp hơn”. Sinh viên được phát triển khả năng tự đặt ra những câu hỏi và tìm kiếm sự thật; khả năng phân tích và phản biện về những vấn đề đương đại. Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ, mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh. Theo Ronald Barnett, có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học [20]: Thứ nhất, GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn.
Theo quan điểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động. Như vậy, GDĐH trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp. Thứ hai, GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu. Theo cách nhìn này, GDĐH là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới.
Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm ngặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng. Thứ ba, GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Rất nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục. Do vậy, các cơ sở GDĐH thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ tốt nghiệp của sinh viên.
Thứ tư, GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học. Theo cách tiếp cận này, GDĐH được xem như một cơ hội để người học được 9 Luan van tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt. Theo Từ điển giáo dục học, GDĐH được hiểu là “bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao có mục tiêu đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [7]. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH, nhưng có thể hiểu GDĐH là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.2 Quan niệm, quan điểm về giáo dục đại học Quan niệm về giáo dục đại học: GDĐH Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn nhân lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình CNH-HĐH, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục tiêu của GDĐH và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, GDĐH nước ta cũng đang đứng trước những thách thức rất to lớn, đó là: “phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo được yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn bộ hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của 10 Luan van đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Chất lượng nguồn nhân lực đang là khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế.” Vì thế GDĐH Việt Nam cần phải được đổi mới một cách cơ bản và toàn diện. Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã xác định: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” [16].
Trong đó việc phát triển đội ngũ giảng viên cho giáo dục ở bậc đại học được cụ thể hóa như sau: “Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sĩ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ”; và “Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sĩ.” Quan điểm của lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học: Nhìn từ góc độ lãnh đạo các cơ sở giáo dục ảnh hưởng đến tập thể đội ngũ GV như sau: - Đội ngũ phải đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng. 11 Luan van - Đội ngũ phải hợp lý về cơ cấu. Có sự liên tục, kế thừa giữa các thế hệ và chuẩn bị để có thể đổi mới các thế hệ theo một tỷ lệ nhất định. Một tập thể đội ngũ cần bao gồm đủ 4 lớp nhân sự: Lớp giảng viên đầu ngành (thâm niên giảng dạy trên 20 năm).
Lớp giảng viên đã ổn định và vững tay nghề (thâm niên giảng dạy 10-20 năm). Lớp giảng viên đã quen với công việc (thâm niên giảng dạy 5-9 năm). Lớp giảng viên mới (thâm niên giảng dạy dưới 5 năm). - Đội ngũ phải được bồi dưỡng thường xuyên.
- Đạt hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. - Đoàn kết thống nhất để tạo nên sức mạnh của tập thể đội ngũ.3 Khái niệm, đặc điểm nguồn nhân lực giáo dục đại học Khái niệm: Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố cơ bản: số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung ở hiện tại và tương lai. NNL là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng.
Giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Quản lý nhà nước về phát triển NNL giáo dục và đào tạo là quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta bởi NNL là nguồn lực nội tại, cơ bản, có khả năng tái sinh, tự sản sinh và đổi mới phát triển nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Do đó, NNL là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; vừa là chủ thể, vừa 12 Luan van là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu giữ vị trí trung tâm trong các nguồn lực có vai trò quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Nguồn lực con người giáo dục đại học chính là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, giáo dục, tạo nên chất lượng và hiệu quả của công tác GDĐH.
Nguồn lực GDĐH gồm hai thành tố cơ bản, có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là số lượng và chất lượng nguồn lực cán bộ giảng viên GDĐH.