CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DNNVV NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về DNNVV ngành công nghiệp 1. Khái niệm DNNVV ngành công nghiệp Trong lịch sử kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia; tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước hay khu vực mà các nhà kinh tế, các chính phủ đưa ra các khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ở Việt Nam, từ năm 1998 đến nay, Chính phủ đã đưa ra ba khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa : Theo quy định tạm thời của Chính phủ trong Công văn số 618/CP – KTN ngày 20/6/1998, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ VND hoặc số lao động bình quân hàng năm dưới 200 người. Theo nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau : “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, của địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên” [9]. Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh nghiệp nhỏ và vừa Luan van 5 là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Theo nghị định này có quy định rõ cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể, đối với ngành công nghiệp, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp chỉ có 10 lao động trở xuống; doanh nghiệp nhỏ có từ trên 10 lao động đến 200 lao động hoặc vốn hoạt động từ 20 tỉ đồng trở xuống; tương tự, doanh nghiệp vừa có từ trên 200 lao động đến 300 lao động hoặc vốn từ trên 20 tỉ đồng đến 100 tỉ đồng [10]. Tiêu chí xác định DNNVV ngành công nghiệp Do những đặc thù được quy định bởi quy mô doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nên các doanh nghiệp có quy mô nhỏ là đối tượng của các chính sách hỗ trợ đặc biệt từ phía Chính phủ, để xác định rõ đối tượng của các chính sách hỗ trợ này cần có những tiêu chí cụ thể, người ta gọi đó là các tiêu chí về DNNVV. DNNVV ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tập trung ở khu vực tư nhân là chính. Đó cũng là hợp lý với quy luật tự nhiên, các nhà doanh nghiệp tư nhân thường khởi sự công việc kinh doanh của mình từ nhỏ đến lớn.
Họ có thể đăng ký thành lập rất nhiều, nhưng cũng bị phá sản không ít trên bước đường phấn đấu để trở thành những doanh nghiệp lớn Tại các nền kinh tế khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thì định nghĩa DNNVV thay đổi. Tại HongKong [15, tr 1], các doanh nghiệp sản xuất nói chung có số nhân viên dưới 100 lao động được xem là DNNVV. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra định nghĩa DNNVV thông qua việc sử dụng các thông Luan van 6 số sau: Doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, số lượng nhân viên, năng lực tín dụng. Tại Thái Lan, khái niệm các DNNVV lĩnh vực sản xuất được đưa ra một cách chi tiết và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Hai thông số quan trọng được sử dụng là số lượng nhân công và tài sản cố định. Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thái Lan ngành sản xuất Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lượng Tài sản Số lượng Tài sản nhân công (không tính nhân công (không tính đất) đất) (triệu bạt) (triệu bạt) Sản xuất dưới 50 Dưới 50 51-200 50-200 Nguồn: Kỷ yếu hội thảo (2006), Tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC, Hà Nội. Tại Đài Loan [15, tr 2], tùy thuộc vào bản chất của từng ngành kinh doanh các cơ quan chính phủ có thể đưa ra định nghĩa về DNNVV dựa trên số lượng nhân viên thường xuyên, trường hợp các doanh nghiệp được phân loại trong ngành sản xuất, ngành xây dựng hoặc ngành khai thác mỏ, số lượng nhân viên thường xuyên dưới 200 người. Bên cạnh đó, theo Bộ Kinh tế Đài Loan, DNNVV được định nghĩa là những doanh nghiệp đăng ký với Bộ Kinh tế và đáp ứng các yêu cầu về vốn, trường hợp doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng, hoặc ngành khai thác mỏ có vốn góp không quá 80 triệu Nhân dân tệ.
Luan van 7 Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (World Bank) [14, tr 12 – 13] thì DNNVV được quy định như sau: - Doanh nghiệp vô cùng nhỏ là các DN có đến 10 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. - Doanh nghiệp nhỏ là các doanh nghiệp không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD. - Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD. Việc xác định quy mô DNNVV ngành sản xuất tại các nước trên thế giới và của Worldbank chỉ mang tính tương đối vì nó chịu tác động của một loạt các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển của vùng lãnh thổ, tương quan mặt bằng giá lao động, giá thiết bị hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định.
Nhưng nhìn chung các nước trên thế giới sử dụng 2 nhóm tiêu chí là định tính và định lượng để định nghĩa DNNVV ngành sản xuất [14, tr 14]. Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản như chuyên môn hóa, đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý.các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp. Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về số lượng, lao động, số vốn, doanh thu.
Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định doanh nghiệp. Tại những thời điểm khác nhau thì các tiêu chí này cũng khác nhau giữa các nước. Luan van 8 Các cách xác định trên có nhiều điểm khác nhau, không thể rập khuôn theo kinh nghiệm nước ngoài hoặc tiêu chuẩn cứng nhắc, máy móc trong việc phân loại DNNVV ngành công nghiệp, nhất là trong nền kinh tế thị trường sơ khai và chưa vững chắc đang trong giai đoạn phát triển ở nước ta hiện nay. Khi đưa ra các tiêu chuẩn chung để phân loại quy mô doanh nghiệp phải dựa vào tiêu chuẩn chung của các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời phải xem xét trong điều kiên cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển nền kinh tế và nhất là tiêu chuẩn về vốn và lao động thường xuyên phải được hiểu là đồng thời mới xác định chính xác quy mô DNNVV ngành công nghiệp.
So với tiêu chuẩn Ngân hàng thế giới thì tiêu chuẩn DNNVV ngành công nghiệp của Việt Nam có số lao động gần tương đương nhưng số vốn của DNNVV ngành công nghiệpViệt Nam quá nhỏ (100 tỷ đồng chỉ tương đương 5 triệu USD). Tóm lại, tại các nền kinh tế trên thế giới việc định nghĩa doanh nghiệp ở quy mô nào được coi là DNNVV được xem xét trên góc độ của từng ngành và lĩnh vực khác nhau, với mục đích chung là tạo ra sự đồng đều tương đối. Qua đó tránh tình trạng các doanh nghiệp có cùng chỉ số (ví dụ như lao động) nhưng trên thực tế lại khác nhau quá lớn về phương thức quản lý và điều hành doanh nghiệp. Như vậy, việc xác định DNNVV ngành công nghiệp của Việt Nam theo nghị định 56/2009/NĐ-CP là phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam cũng như của Bình Định trong hiện tại và tương lai gần.
Nhưng đến khi nền kinh tế Việt Nam phát triển cao hơn thì tiêu chí trên cần xem xét lại chỉ tiêu về vốn. Đặc điểm của DNNVV ngành công nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam 1. Đặc điểm loại hình kinh doanh Các DNNVV ngành công nghiệp được phân loại thông qua quy mô, tuy nhiên bản thân điều này cũng tạo nên các đặc điểm của DNNVV ngành công nghiệp. Trong các điều kiện và các hoàn cảnh khác nhau thì đây có thể là điểm mạnh hoặc điểm yếu của các doanh nghiệp này [15, tr 6 – 8].
Thứ nhất phải kể đến tính dễ khởi sự. Luật Doanh nghiệp hiện nay áp dụng đối với các ngành nghề kinh doanh không có điều kiện cũng không quy định mức vốn pháp định bắt buộc khi khởi sự doanh nghiệp. Luật cũng không quy định số lượng lao động tối thiểu khi cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp. Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNNVV ngành công nghiệp đăng ký mới gia tăng nhanh chóng.
Trong một chừng mực nhất định, khi việc thực thi các quy định về phá sản và giải thể doanh nghiệp chưa thuận lợi nên một số DNNVV ngành công nghiệp thay vì rút lui khỏi thị trường một cách chính thức thì chọn phương án đơn giản là tạm ngừng hoạt động. Cũng chính vì lý do đó nên việc thống kê số lượng các DNNVV ngành công nghiệp nói riêng và DNNVV nói chung đang hoạt động trên thị trường gặp nhiều khó khăn và khó đưa ra con số chính xác. Thứ hai là tính linh hoạt cao. Đây là đặc điểm gắn liền với các DNNVV.